Học cách cúi mình

Nửa đời về sau, hãy học cách cúi mình và trở nên bình thản.
Đến một độ tuổi nào đó, chúng ta cần phải nghĩ thoáng một chút, biết yêu bản thân mình nhiều hơn một chút, và quan trọng là hãy chăm sóc, nuôi dưỡng một tâm hồn đẹp, một trái tim trầm tĩnh, rộng lượng. Đây sẽ là cách sống tốt nhất cho nửa quảng đường còn lại của cuộc đời.

Nửa đời về sau, hãy học được cách trầm tĩnh

Có đôi khi bị người khác hiểu lầm, đừng tranh luận, hãy lựa chọn giữ im lặng. Trong cuộc sống, có rất nhiều chuyện đúng sai khó có thể nói rõ ràng, thậm chí căn bản là không có hoàn toàn đúng hay hoàn toàn sai. Cho nên, nếu không muốn nói, thì đừng nói. Khi mà có nói nhiều cũng vô ích, có lẽ im lặng là lời giải thích tốt nhất.

Nửa đời về sau, hãy trở nên bình thản

Con người đến độ tuổi nào đó, tự nhiên không còn thích những gì ồn ào náo nhiệt, tâm thái bình thản giúp cho cơ thể khỏe mạnh, kéo dài tuổi thọ.

Mặc kệ là đời sống vật chất dư dả hay bần cùng, chỉ cần nội tâm bình thản, chính là sống một cuộc đời hạnh phúc.

Nửa đời về sau, hãy học cách cúi mình

Bạn bất đồng ý kiến với với con cái, nói chuyện mâu thuẫn với bạn bè, những điều này cũng không sao cả. Nghĩ thoáng một chút, chấp nhận buông bỏ, cho dù là cúi người xuống nói lời xin lỗi thì có sao?

Lúc này bạn cũng có thể về lau nhà, lấy ra một đống giẻ lau, cúi người lau sạch sàn nhà trước mặt mình. Trong lúc lao động, bạn sẽ nhận ra tâm trạng và suy nghĩ của mình dần lắng xuống.

Nửa đời về sau, hãy đừng cảm thấy hối hận

Cuộc đời là một con đường dài với vô số ngã rẽ, và ta luôn phải lựa chọn không ngừng. Nhưng cuộc đời không có cơ hội nào lặp lại, lựa chọn rồi thì đừng hối hận, cũng đừng nói câu muốn làm lại từ đầu…

Mỗi lựa chọn đưa ra không có thực sự tốt hay thực sự tồi, chỉ cần biết cuộc sống là tác phẩm độc nhất vô nhị của chúng ta, thì sẽ không phải hối tiếc nếu ngày đó mình không làm như vậy.
Nửa đời về sau, hãy tiếp tục học tập

Đọc sách xem báo, thư pháp hội họa, ca hát khiêu vũ,… đều là một trong những thứ chúng ta nên tiếp tục học!

Mang theo bên mình một chiếc máy nghe nhạc, dù là buổi sáng ở nhà hay ra ngoài tập thể dục, luyện khí công vừa nghe nhạc vừa làm việc khác. Như vậy có thể đem đến cho cuộc sống rất nhiều niềm vui, khiến cho tâm tình khoan khoái dễ chịu.

Nửa đời về sau, hãy giữ gìn sự đơn thuần

Suy nghĩ quá nhiều, ngược lại càng làm cuộc sống thêm phức tạp, “đơn thuần” thật ra chính là một ân huệ mà trời cao ban cho chúng ta.

Sống đơn thuần ở hiện tại, đơn thuần cảm nhận mùi thơm của đồ ăn, đơn thuần nhận ra niềm vui của vận động, đơn thuần cùng bạn bè nói chuyện trên trời dưới đất. Đừng suy nghĩ quá nhiều, cuộc sống thật ra luôn cần những niềm vui đơn giản.
Nửa đời về sau, hãy thỉnh thoảng buông thả bản thân

Mỗi ngày ăn trái cây rau quả, thực phẩm lành mạnh, có phải là có lúc cũng thèm thịt cá? Vậy thì cứ ăn đi!

Thực phẩm lành mạnh có lợi cho cơ thể, nhưng thỉnh thoảng cũng nên buông thả bản thân một chút. Cuộc đời không nên gò ép bản thân mình quá, ngẫu nhiên phóng túng thì càng bình dị, gần gũi.

Nửa đời về sau, hãy luôn ăn mặc đẹp

Yêu cái đẹp nên là điều mà chúng ta theo đuổi cả đời, tuyệt đối đừng vì suy nghĩ mình lớn tuổi mà không muốn trưng diện nữa.

Hãy nhân lúc lưng còn thẳng, chân còn khỏe, hãy mặc thật nhiều bộ đồ xinh đẹp, đến những nơi đẹp đẽ nhất, chụp những tấm hình rực rỡ nhất!

Nửa đời về sau, đôi lúc hãy ngờ nghệch một chút

Có những chuyện, cần hờ hững thì hờ hững, điều gì không làm rõ được thì không cần làm rõ, người nào cần lướt qua thì cứ lướt qua.

Nếu như chỉ biết nhớ không biết quên, chỉ biết tính toán mà không biết cho qua, chỉ biết khôn khéo mà lại không biết vụng về… sẽ chỉ làm cuộc sống của chúng ta luôn nặng nề, phiền não.

Nửa đời về sau, hãy thường xuyên chúc phúc cho người khác

Chúng ta đối đãi với người khác thế nào, họ cũng sẽ đối đãi với ta như vậy. Cho nên, hãy thường xuyên khen ngợi bạn bè, con cháu của mình, thậm chí cả người xa lạ cũng đừng tiếc một lời chúc phúc!

Thời điểm bạn làm cho người khác vui vẻ, bạn sẽ nhận ra rằng mình còn được nhân đôi niềm vui. Sống ở hiện tại, tận hưởng cuộc sống ở hiện tại, đó chính là phương thức sống tốt đẹp nhất!



Tu Sĩ Phi Lộc

Thất bại khi một dân tộc phải dựa dẫm thánh thần mà đi


Bài viết là một cái nhìn dựa trên sự quá mê tín của con người.

Cái sảy nảy cái ung, nếu không cẩn thận, hệ quả của các lễ hội không chỉ dừng lại ở sự nhốn nháo mà còn có nguy cơ đẩy dân tộc đến chỗ yếu đuối, tự ti và bạc nhược.

Ngày tế, lễ với công dân nhiều quốc gia có văn hóa gần gũi với chúng ta như Nhật, Hàn Quốc, Đài Loan, Singapore… diễn ra thật thanh bình và giản dị. Vào lúc giao thừa, người Đài Loan, Nhật Bản cùng nhau quây quần trong nhà. Sáng sớm, họ tới chùa đánh chuông, cầu mong sự tốt đẹp cho đất nước và người thân. Mọi sự diễn ra thật bình dị, ấm áp và sang trọng. Họ tin vào những gì họ có và tin vào ngày mai, cho dù Nhật là quốc gia nằm ở chỗ vỏ Trái đất yếu nhất, chịu rủi ro cao nhất nhưng phong thái của họ toát lên một vẻ ung dung tự tại.

Lễ hội là tấm gương phản chiếu thái độ sống của một dân tộc. Cứ đến ngày tết và các lễ sau tết, ngày thi cử thì cả đất nước ta sôi lên sùng sục. Mọi người đổ đến chùa chiền, miếu mạo để cầu xin sự phù hộ của thánh thần.

Có rất nhiều người đi hàng chục ngôi chùa, rủ nhau trở thành hội đi chùa, tạo ra một mùa hành hương. Trong số đó có không ít quan chức nhà nước đi miếu, chùa bằng xe biển số xanh, nhất là các bà vợ của họ. Họ dâng sớ cầu xin đủ thứ trên đời, nào cầu an, cầu lộc, cầu tài, cầu tình, cầu duyên, cầu tự và cả những thứ “độc địa” khác nữa. Hàng triệu con người bỏ thời gian đi tới những nơi được coi là linh thiêng với thái độ hối hả, lo lắng, sợ sệt, tự ti chen lẫn khoe mẽ. Nhiều tỉ đồng tan thành mây khói nuôi dưỡng cho niềm tin mơ hồ nhưng rất mãnh liệt.

Lễ hội ở các nơi trên thế giới có thể đông nhưng bát nháo như ở ta thì cực hiếm. Chúng đan xen rất nhiều thái cực và nhiều tâm thế. Ngoài ái, ố, hỉ, nộ ra thì còn biết bao nhiêu chuyện bi hài khác diễn ra trong lễ hội. Người hoan hỉ khi cướp được lộc thánh, người đau khổ vì cầu chưa xong đã mất tài sản, kể cả mất mạng.

Giá như mọi người biết rằng “lộc thánh” như miếng vải có ấn triện đỏ đỏ, hoa tre là bùi nhùi ở đầu thanh tre, tiền của chúa là những miếng giấy bản được in mệnh giá thủ công,… nào đâu phải của “thánh”, của “chúa” mà chỉ là do một ai đó người trần mắt thịt tạo ra. Rất có thể trong số họ chả thiếu người bất hảo đã hà hơi thêu dệt nên ảo ảnh, được những người có thế lực tiếp tay đẩy lên thành thứ “thiêng”.

Hối hả, giành giật, chen chúc, xô xát, chặt chém, lừa lọc, chửi bới, hối hận, cay cú, máu me,… là trạng thái tâm thần của lễ hội chúng ta. Từ “phụ mẫu của dân” đến tất cả con dân của một đất nước phải vin vào thánh thần mà đi tới tương lai thì quả thật đất nước đang có vấn đề, vượt ra khỏi tâm linh trong sáng mà chuyển sang một trạng thái cực đoan khác. Không thể kéo dài tình trạng này được nữa, những người có trách nhiệm cần phải có nhận thức đúng, phải có thái độ đúng và hành xử đúng.
Bác Hồ nói một quốc gia dốt là một quốc gia yếu, mà u mê là một biểu hiện của dốt nát. Một dân tộc dựa dẫm thánh thần không thể nào là một dân tộc mạnh khỏe.


Nguồn: TS NGUYỄN MINH HÒA, ĐH KHXH&NV TP.HCM-PLO





Tâm sự của một người New York về Trump

“Tu thân, tề gia, trị quốc, bình thiên hạ” cần một người hùng, chứ không cần một người hiền. Người hiền như Obama chỉ có thể làm được việc nhỏ, một số việc thuận theo xu hướng, nhưng nếu để xoay vần thế cuộc, nổi đình nổi đám, chắc phải nhờ đến Donald Trump.

Nói thật thì mất lòng, nhưng nếu nói về Trump mà không dùng ngôn từ của người New York thì chắc chắn không thể hiện hết con người Trump, dưới đây tôi muốn chém gió qua giọng lưỡi của người New York để mọi người hiểu sâu hơn về Trump, một thủ lĩnh sắp nắm quyền cai trị một bang phái mạnh nhất giang hồ. Nghe có thể làm bạn mất lòng, nhưng vì là nói thực…kkk

Tổng thống đắc cử Donald J. Trump sống ở 3 tầng cao nhất trong tòa nhà 58 tầng – Trump Tower ở đại lộ 5 khu Manhattan, Nữu Ước. Đây là một tòa nhà sang trọng hào hoa tại khu vực đắt đỏ nhất thế giới, quyền lực nhất thế giới. 99% những hộ dân ở khu vực này đều là VIP hàng đầu thế giới về chính trị, kinh tế, thể thao, nghệ thuật…Địa chỉ ở đây có thể nói là địa chỉ kim cương danh giá nhất thế giới, không một địa chỉ nào sánh bằng, nếu có một nơi sánh kịp, chắc đó là địa chỉ của thượng đế.

Tôi sống ở New York mấy chục năm, nên hiểu New York nhất, hiểu Manhattan từng ngõ ngách, và điều quan trọng là tôi hiểu được Mr. Trump, một người New York thực thụ.

Một thời mà các sòng bạc mở ra tưng bừng ở thành phố cờ bạc Atlantic City, Trump có đến vài ba cái sòng bạc mang tên mình, Trump kinh doanh rất được lòng người, gần gũi với dân chơi. Có một đêm Noel chúng tôi chơi bạc thâu đêm tại sòng bạc mang tên Trump – Trump Taj Mahal, mấy người bạn ở New York về đây bao một cái bàn Baccarat để chiến. Hôm ấy mọi người đều đang đánh thắng tưng bừng, bỗng Trump bước vào, măng tô đen dài, cổ khoắc khăn trắng, ngực cài bông hồng đỏ, giơ tay chào mọi người “Merry Christmas Everybody” (Chúc mừng Noel tất cả các vị). Chúng tôi cũng “Hello” lại nhưng vẫn chăm chú đánh bạc, chẳng ai bắt chuyện với Trump, một cậu bạn thấy Trump đứng sau xem, quay lại khen Trump điển trai ghê, Trump trả lời “Thanks” và cho biết mới đi dạ hội Noel về…

Trước cuộc bầu cử, tôi biết Trump sẽ thắng, nhưng vì không thể đối chọi với dư luận và ngại giải thích với mọi người nên cứ để mặc, thuận theo mọi người. Bởi sao? Không lặp lại nội dung cho mệt, điều căn bản nhất bởi người Mỹ đã chán chường cái trò chơi tập thể và nhường nhịn để kéo phe kéo cánh với mục đích chính trị, có tiếng không có miếng, chẳng có lợi gì cho dân Mỹ của đảng Dân Chủ và Obama.

Dân ở đâu cũng vậy, đều cần có cơm no áo mặc, điều kiện sống và tất cả những thứ cho dân sinh. Họ rất thực tế, và khi họ hiểu ra sự thật thì họ bức xúc vô cùng. Dù Mỹ hiện nay bị xa sút ra sao thì vẫn là một siêu cường về kinh tế, quân sự, trong lúc mình còn mạnh lại đi nhượng bộ quá nhiều để Trung Quốc vượt mặt một cách nhục nhã.

Đảng Dân chủ và Obama đã làm suy giảm sức mạnh về ngoại giao của Mỹ với lòng nhân đạo nhu mì và không thực chất. Họ bị bỏ bùa với chủ nghĩa nhân đạo lỗi thời, và cứ thế lao xuống dốc. Mấy năm nay tôi đã thấy lo ngại, nhưng quả thật Trump đã nói đúng chỗ lo ngại của tôi. Trump không thẹn thùng chỉ ra những “lạc hậu” của Mỹ, điều này rất ít người dám nói, thậm chí còn che đậy lại. Trump nói về lượng người nghèo tăng trưởng, đường xá, sân bay, bệnh viện, trường học, nhất là đường sắt …, thương mại, mậu dịch bị cạnh tranh tàn khốc, quân sự đang bị đuổi kịp, trạm không gian quốc tế sắp hết thời hạn phục dịch nhưng chưa có kế hoạch để làm cái khác, trong khi ấy Trung Quốc đã thành công đưa trạm không gian của mình lên vũ trụ… Khi Thiên Cung 1 đã trên quỹ đạo, Trạm Thiên Cung 2 của Trung Quốc sẵn sàng bay vào vũ trụ…Vừa rồi NASA tuyên bố kéo dài tuổi thọ của trạm không gian quốc tế đến năm 2024 trước khi nó thành rác vũ trụ, trong khi đó các nước Canada, Pháp, Đức, Anh và Ý đang tỏ ra rất hưng phấn được cộng tác với Trung Quốc trong trạm không gian Thiên Cung.

Tôi rất đau lòng nhìn thấy sự thật xuống cấp hạ tầng cơ sở của Mỹ và các nước phương Tây. Một sân bay cấp huyện của Trung Quốc cũng hoành tráng hơn một sân bay quốc tế của nhiều nước phương Tây thậm chí những sân bay ở Mỹ. Khách du lịch từ các nước Âu, Mỹ đến Bắc Kinh, Thượng Hải, Thẩm Quyến… đều ngơ ngác như người nhà quê ra Hà Nội. Trung Quốc đã có một mạng lưới tầu cao tốc mặt đất thông đi khắp nơi trong nước, người dân Trung Quốc được hưởng phúc lợi từ mọi mặt, nhưng nhà nước họ vẫn chơi trò bắt Liên Hiệp Quốc phải công nhận họ là nước thứ ba đang phát triển để được hưởng lợi ở nhiều phía trong các quy ước quốc tế. Hàng năm có hàng vài chục ngàn lưu học sinh sang Mỹ hưởng lợi về nền giáo dục của Mỹ rồi về nước xây dựng đất nước Trung Hoa với giấc mộng Trung Hoa bành trướng. Mỹ vẫn được tiếng khen ảo nhưng biết đâu mình dần dần lép vế trong mọi lĩnh vực. Trump lên ngôi, một người New York thực thụ lên, người dân Mỹ nhìn thấy hy vọng, thế cuộc sẽ thay đổi, vận mệnh sẽ thay đổi. Trump thu thập rất nhiều nhân tài dầy dạn cho bộ máy của mình, dù cho người đó trước đây có chỉ trích mình hay đã phạm điều gì đó ở bộ máy cơ cấu cũ. Trump đề cao tài năng và kinh nghiệm của họ, không xía vào những khiếm khuyết cá nhân. Điều này giống thuyết “Mèo đen Mèo trắng” của Đặng Tiểu Bình, Mèo nào bắt được chuột là Mèo tốt.

Khác với lòng nhân đạo không hợp với hiện thực của Obama, Trump sẽ hành sự như một thương gia cả trong chính trị, quân sự, ngoại giao…ai bảo không được? xin nén lòng chờ đợi. Mọi cái đều có giá của nó, thông qua đàm phán, hai bên cùng có lợi, cuối cùng đều đạt được lợi ích chung. Trong nước, Trump sẽ cắt giảm thuế, đuổi người nhập cư trái phép ra khỏi đất nước, tiểu bang nào che chở cho người nhập cư trái phép sẽ bị cắt viện trợ liên bang. Cắtmột số viện trợ vô ích cho các nước và Liên Hiệp Quốc để xây dựng lại hạ tầng cơ sở trong nước, để rồi “Khiến các nước lại phải ghen tị với sự hoành tráng của Mỹ” đó là câu nói của người New York, của Trump.

Trump kêu gọi các công ty lớn quay về nước, đem lại công ăn việc làm cho dân Mỹ, nếu ương bướng: “Bố mày đánh thuế nhập khẩu lên đến 40% cho chúng mày chết mẹ nó đi”…kkk. (Nói đúng phong cách dân New York đấy bạn ạ). Trump sẽ bãi bỏ các lệnh cấm để các công ty Mỹ tự do phát triển năng lượng, khí đốt thiên nhiên, khiến nước Mỹ trở thành nước xuất khẩu năng lượng lớn nhất. Bất chấp các hiệp định được ký lấy lòng với các nước sản xuất dầu hỏa trước đó với mục đích lôi kéo chính trị bè phái kiểu trẻ con.

Về an toàn quốc gia, ngoài việc Trump cho đuổi hết dân nhập cư bất hợp pháp, nước nào không nhận lại số người này, sẽ bị cắt thị thực vào Mỹ, xây dựng hàng rào với Mễ Tây Cơ, tạm cắt thị thực vào Mỹ với người Hồi Giáo nếu không tra cứu được bối cảnh và nếu phát hiện sự uy hiếp khủng bố từ họ. Tăng thêm cảnh sát, tăng thêm chi phí an toàn quốc gia, phát hiện nguy cơ, bắn ngay không thương tiếc, thà giết nhầm còn hơn bỏ xót, dùng quả đấm sắt để bảo vệ an toàn cho dân Mỹ. Ngoại giao, Trump sẽ thay đổi cách đàm phán của mình trên tinh thần thực tế, có lợi cho dân Mỹ, đừng tưởng rằng chúng tôi quá cần các bạn và đừng tung hô tôi, tôi không cần tiếng, chỉ cần miếng. Anh đem lợi ích cho tôi, tôi đem lợi ích cho anh. Tôi không lấy không của anh, nhưng anh cũng đừng lợi dụng lòng tốt của tôi…Căn cứ quân sự ở Nhật Bản, Hàn Quốc, thậm chí ở Châu Âu đều sẽ dàn xếp lại, hỗ trợ an toàn thế giới không phải chỉ là trách nhiệm riêng của Mỹ, muốn tiếp tục, các nước này cần phải chi tiền, nếu không Mỹ sẽ rút về nước. Chỉ đơn giản vậy thôi mà việc này đã kéo dài hàng mấy chục năm? Lúc ấy mọi người sẽ đặt câu hỏi, vậy sẽ ra sao nếu Triều Tiên oanh tạc bom hạt nhân vào bán đảo này? Ôi, lại lo bò trắng răng, có phải oanh tạc dân Mỹ đâu? (kkk…Nghe có vẻ vô nhân đạo nhỉ? nhưng đấy là tư duy thật của người New York). Nhưng, nếu nó dám oanh tạc dân Mỹ, trong vòng 1 tiếng, chúng, dân của chúng, quốc gia chúng, sẽ bị xóa hết dấu tích ở địa cầu này, không có tinh thần quốc tế cộng sản ở đây, có tiền thì có an toàn, không tiền thì hơi dã man chút đấy…kkk

Về quân sự, thông qua việc đưa một bộ trưởng quốc phòng có tên là “Chó điên” lên ngôi thì sẽ biết, Trump không ngại gì dùng quân sự để giải quyết những chuyện đáng giải quyết bằng súng đạn. Điều này có lợi cho các nhà tư bản sản xuất súng đạn, làm tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, thu lời chiến tranh. Khi Trump lên ngôi, bọn khủng bố ISIS đã sợ xanh mắt. Trump sẽ phối hợp với Putin diệt bọn này như dẫm gót giầy sắt trên mấy tổ kiến lửa. Điều mà Obama và nội các của mình không làm được bởi những tính toán hơn thiệt vụn vặt trẻ thơ với Putin và những nước cờ nhẽ ra đã phải thay đổi ở tình hình Trung Đông.

Vừa rồi mấy bọn dở hơi chống Trump tập trung trước tòa nhà Trump ở, đốt cờ Mỹ, kêu gọi tẩy chay Trump, đa số là người nhập cư nước ngoài, điều này đã làm Trump bực bội, đứng ra cửa kính nhìn, rồi buột miệng: “Đ…mẹ, cho chúng nó thành công dân Mỹ rồi lại phản lại đất nước cưu mang mình…Tôi sẽ lập pháp, đứa nào đốt cờ Mỹ sẽ đuổi về nước sở tại, hoặc hủy bỏ tư cách là công dân Mỹ”. Kha, kha, kha, tôi nghe mà sướng thấy mẹ, đúng là phát ngôn của người New York thực thụ.

Vừa rồi tại nhà hàng Michelin tầng một khách sạn của Trump, Trump đã tiếp đón Mitt Romney, một tay kỳ cựu trong làng chính khách Hoa Kỳ, người trước đây từng gây hấn với Trump nhưng sau này đã nhìn thấy một Trump thực sự, một niềm hy vọng của nước Mỹ trong giai đoạn mới. Bên ngoài trời mưa, bên trong Romney được mời ăn soup cẳng Ếch nấu tỏi non và nghe Trump bàn về thiên hạ, bàn về nước Mỹ, lần đầu tiên ông này được nghe tận tai một sự đàm luận không chút khách sáo của một người New York sắp lên chức Sếp của thế giới. Sau đó, ông ra ngoài nói với phóng viên báo chí bằng những lời lẽ đánh giá cao Trump, một câu đáng giá nhất là: “Nước Mỹ có hy vọng rồi”. Trump đang suy tính để đưa Romney lên làm Quốc Vụ Khanh cho nội các của mình.

Hành sử như Obama – tháo nhẫn trước công chúng, cho vào túi rồi mới dám bắt tay công chúng không thể có được ở người New York, không thể có được ở Trump. Người New York tin vào sức mạnh quần chúng, hòa vào quần chúng, cống hiến quần chúng, hy sinh cho quần chúng. Một cái nhẫn, dù giá trị vật chất và giá trị tinh thần đến đâu cũng không mùi mè gì với sự thiêng liêng mà quần chúng đem đến cho anh. Cho dù chiếc nhẫn ấy có rơi vào tay một thằng nghiện, ít nhất nó cũng được rít vài hơi để tồn tại sinh mạng và làm lại cuộc đời…kkk Trump chưa tiếp quản chính thức mà cổ phiếu Mỹ đã lên ầm ầm, đồng Đô la tăng giá, vàng hạ… điều này nói lên uy tín của Trump là có thật, mọi người tin tưởng vào Trump nói là làm, làm là không ởn ờ, là hiệu quả. Bản tính của người New York là vậy, không cần khen chê, chỉ cần có kết quả tốt, mặc cho kết quả ấy đến từ kiểu gì, có lợi cho dân, cho nước trước tiên, rồi sẽ tính đến hội nhập toàn cầu sau.

Ghét Trump hay quý Trump thì đều phải đối diện sự thật, quy luật của đời bao giờ cũng vậy, điều gì chối quá rồi cũng phải thay đổi, lạc cực thì sinh bi. Hãy cho Trump thời gian để trả lời các bạn, nhưng tôi tin tưởng chắc chắn bạn tôi – Donald Trump sẽ không phụ lòng dân Mỹ, một Mỹ quốc ngời ngời Đế chế sẽ được quét vôi lại, khác với màu vôi xanh của chủ nghĩa dân chủ toàn cầu như Obama đã dùng một cách nhàm chán, vô thưởng vô phạt.

(Bài do nhà văn Tô Nhuận Vỹ cung cấp. Không ghi tên tác giả và nguồn.)





Cha tỷ phú USD số 1, con không có một đồng thừa kế

Với ba người con đều đang ở tuổi đến trường, tỷ phú Bill Gates và vợ vẫn quyết định dành khối tài sản 70 tỷ USD của mình cho từ thiện.

Xuất hiện trong chương trình This Morning trên kênh ITV, tỷ phú Bill Gates, cha đẻ của hãng Microsoft, cho biết, cả 3 người con của ông đều hiểu được vì sao cha mình muốn để lại toàn bộ khối tài sản 70 tỷ USD để làm từ thiện khi ông qua đời, chúng rất tự hào về quyết định đó của hai vợ chồng ông cũng như những nỗ lực mà ông đang cố gắng để giúp các nước nghèo nhất trên thế giới.



Bill Gates chia sẻ rằng thay vì nhận được những tờ tiền chỉ có giá trị vật chất, con cái của ông sẽ nhận được một nền giáo dục tuyệt với để bắt đầu sự nghiệp riêng của mình. "Các con tôi được học hành, giáo dục với điều kiện tốt nhất và cũng được nhận một khoản tiền nhưng chúng sẽ dùng nó để đi ra ngoài, tự xây dựng cơ nghiệp của riêng mình", Mirror dẫn lời nhà sáng lập Microsoft nói với hai người dẫn chương trình Holly Wiloughby và Ben Shephar

 Theo tỷ phú Bill Gates, việc để cho ba con, hai gái và một trai, thừa kế khoản tiền lớn sẽ "bóp méo bất cứ dự định nào" mà chúng có thể làm. Tuy nhiên, Bill Gates cũng cho biết ông sẽ để ra một khoản nho nhỏ, trong trường hợp các con của mình thực sự cần thiết. Dù vậy, ông vẫn khuyến khích con cái mình có một cuộc sống tự lập riêng.

"Số tiền này sẽ được dùng để giúp những người nghèo khổ nhất. Lũ trẻ biết điều đó và chúng rất tự hào. Các con cũng theo tôi trong những chuyến đi từ thiện để hiểu được những nỗ lực mà vợ chồng chúng tôi đang làm", Bill Gates nói.

Tỷ phú công nghệ Bill Gates và vợ Melinda, 52 tuổi, kết hôn và sinh được ba con là Jennifer, 20 tuổi, Rory, 17 tuổi và Phoebe, 14 tuổi.
Cô con gái đầu đang là sinh viên năm hai tại ngôi trường đại học danh tiếng Stanford ở California, nơi ông Gates từng quyên góp hơn 6 triệu USD để xây dựng một tòa nhà khoa học công nghệ máy tính mang tên ông. Jennifer cũng là một vận động viên cưỡi ngựa được đánh giá cao, từng tham gia thi đấu trên khắp nước Mỹ. Trong khi đó, Rory và Phoebe đang học phổ thông và sống cùng nhà với bố mẹ ở ngoại ô Seattle, Washington.

Tỷ phú Bill Gates từng cam kết sẽ chuyển giao một phần nhỏ tài sản khổng lồ của mình cho các con, trong khi phần còn lại sẽ quyên cho Bill And Melinda Gates Foundation, tổ chức từ thiện do vợ chồng ông sáng lập.


Mai Khanh (ITV/suckhoedoisong)





Nhát như thỏ ?

Hòn đảo thỏ ở Nhật Bản
Từng là nơi sản xuất khí ga độc hại trong chiến tranh thế giới thứ hai, đảo Okunoshima ngày nay trở thành thiên đường cho hàng trăm con thỏ sinh sống và thu hút 100.000 khách mỗi năm

Okunoshima là một hòn đảo nhỏ thuộc thành phố Takehara, tỉnh Hiroshima, Nhật Bản giống như một vườn thú dễ thương vì có rất nhiều thỏ. Khoảng 300 con thỏ đang sinh sống hoang dã ở đây nên đảo còn được gọi là Usagi Jami (Đảo Thỏ).
Lý do hòn đảo luôn duy trì được số lượng thỏ lớn như vậy vẫn còn là một điều bí ẩn. Có một giả thuyết cho rằng, vào năm 1971, một nhóm học sinh trong chuyến đi cùng trường tới đây và đem theo vài con thỏ. Dần dần, số thỏ tăng dần và lan ra sống khắp đảo.

Số lượng thỏ thật sự đã vượt qua cả số người sống trên đảo Okunoshima. Vào năm 1945, một căn cứ quân sự bí mật đóng tại đây, để sản xuất loại khí ga độc. Cuối cuộc chiến tranh thế giới thứ hai, căn cứ này bị phá hủy và tất cả tài liệu liên quan tới thông tin bí mật đều bị đốt. Mọi người cũng dần dần bỏ đi nơi khác. 
Ngày nay, hàng trăm con thỏ không ngại ngần lang thang khắp hang cùng ngõ hẻm trên hòn đảo.  
Chúng đều là thỏ hoang, nhưng rất thân thiện và dễ gần, đặc biệt là với người cho đồ ăn.
 Du khách tới Okunoshima được phép mang đồ và cho thỏ ăn cũng như cưng nựng, chơi đùa với chúng. Vào mùa đông, lượng thức ăn trong môi trường tự nhiên khan hiếm hơn, du khách mang thức ăn tới cũng rất tốt cho những con thỏ.
Lưu ý, hãy mua đồ ăn cho thỏ ở siêu thị, như rau củ hoặc các loại hạt dành riêng cho chúng trước khi đi vì trên đảo không có chỗ bán.
 
Hòn đảo nhỏ này hiện thu hút hơn 100.000 khách mỗi năm, với sức hấp dẫn lớn nhất là những con thỏ hoang xinh xắn, thân thiện. Hòn đảo có một khách sạn, khu cắm trại nhỏ và cả một sân golf.
Du khách đến đảo bằng phà từ thị trấn ven biển Tadanoumi và Ōmishima. Sau khi cập bến, chỉ cần bỏ ra 1,5 tiếng là du khách có thể dạo bộ hết xung quanh đảo.
Du khách không được phép mang thú cưng riêng như mèo, chó tới đảo. Đó là luật để bảo vệ những con thỏ bản địa của đảo Okunoshima. 








Bún chửi Hà Nội

Miếng ăn miếng nhục, tự hào gì khi bún chửi Hà Nội lên CNN?


Kênh truyền hình CNN vừa phát một phóng sự về quán "bún chửi" ở phố Ngô Sĩ Liên-Hà Nội và người dẫn chương trình Anthony Bourdain gọi đó là "món ăn đặc sắc của Việt Nam".

Quán "bún chửi" là một quán nhỏ nằm ở phố Ngô Sĩ Liên, Đống Đa, Hà Nội chuyên bán các món bún như: Bún sườn móng giò, bún dọc mùng...

Trong chương trình ẩm thực vừa phát của CNN, đầu bếp Anthony Bourdain cũng đề cập đến tên gọi đặc biệt của quán bún này, ông bình luận về những câu quát, chửi và cách ăn nói, khẩu khí của chủ quán là: "Đây là các giao tiếp suồng sã và thẳng thắn của bà chủ quán với khách hàng của bà".

Hình ảnh bà chủ quán bún chửi Hà Nội trên CNN, người tóc bạch kim phía sau là đầu bếp Anthony Bourdain
Trong chương trình phát trên CNN, khán giả thấy bà chủ quán, vẻ mặt rất "chảnh", trả lời một thực khách gọi món bún mọc như hắt nước đuổi đi: "Quán chị không có mọc, em thích thì ra ngoài chợ. Mà tốt nhất là về nhà tự nấu lấy mà ăn nhé. Ở đây không làm. Đi luôn".

Sau khi xem chương trình, nhà báo Trương Anh Ngọc, từ Rome (Italy) đã có những ý kiến bình luận về video và thái độ tiếp nhận của nhiều người Việt Nam trước video này như sau:

"Mấy người bạn mình bảo, thật tự hào khi thấy bún chửi của Hà Nội cũng lên CNN. Mình không rõ tự hào ở đây là tự hào thật hay là trong ngoặc kép. Mình chỉ thấy xấu hổ.

Lời bà chủ quán trên CNN (tạm dịch): Biến khỏi đấy
Chương trình của Anthony Bourdain không đơn thuần là một chương trình về ẩm thực, mà là về văn hóa. Và Bourdain đi khắp nơi trên thế giới để ghi lại những hình ảnh về các nét văn hóa thông qua ẩm thực, lối sống và con người.

Và có thể ông nhìn thấy trong cái quán bún chửi ấy, thông qua văn hóa giao tiếp của bà chủ một nét văn hóa gì đấy của Hà Nội chăng?

Mình không rõ ý đồ của chương trình ở đây là gì, nhưng rõ ràng là Bourdain thấy lạ, độc đáo và vì thế, những hình ảnh và lời nói (có phụ đề tiếng Anh) của bà chủ quán đi khắp thế giới.

Thông điệp của người làm chương trình có thể là gì, ngoài việc chửi khi bán hàng cũng có thể là một nét văn hóa Hà Nội liên quan đến ẩm thực? Nếu thông điệp là thế, mình chẳng hề cảm thấy tự hào.


Các cụ nói, miếng ăn là miếng nhục, trong trường hợp này có lẽ không sai. Người ta sẵn sàng nghe bà chủ hầm hè với nhân viên bưng bê hoặc thậm chí văng vài thứ vào mặt mình và rồi chấp nhận, với lí do, ăn ở đó ngon.

Mình không bao giờ chấp nhận một thứ dịch vụ thiếu văn hóa kiểu đó. Thứ văn hóa dịch vụ xuống cấp ấy sở dĩ vẫn tồn tại được và có thể sẽ còn phát triển, bởi người ta sẵn sàng chịu nhục (hoặc bịt tai lại, hoặc cho là "nó chừa mình ra") để được miếng ngon.

Đây không phải là mậu dịch thời bao cấp thiếu thốn đủ thứ và cái gì cũng phải phân phối theo tiêu chuẩn để bà chủ trong vai người bán hàng làm phước cho khách hàng đứng xếp hàng mà như đang xin xỏ.

Người bán hàng là người cung cấp dịch vụ, không phải là bố tướng, và khách hàng bỏ tiền ra để được phục vụ cho tương xứng với số tiền đã bỏ ra, trong một không gian mà họ chấp nhận được.

Nhưng khách hàng ở mình nhiều người dễ dãi quá. Họ có thể nổi khùng trên Facebook khi ai đó không đồng ý với quan điểm của mình.

Họ cũng sẵn sàng gây gổ đánh lại hoặc chửi người khác trong các vụ đụng xe trên đường. Nhưng họ sẵn sàng cất đi lòng tự trọng của họ vào ngăn kéo trước các dịch vụ kiểu này, chỉ cần được ăn ngon, ngon theo định nghĩa của họ.

Ngon ư? Xin lỗi, tôi cần được tôn trọng".


Nguồn: Thể Thao Văn Hóa





Người Việt có tài giỏi như chúng ta đang tự hào?

Bà Phạm Chi Lan
Người Việt Nam ta có thực là một dân tộc thông minh, với những đóng góp giá trị cho văn minh nhân loại như nhiều người thường tự hào? Lần lại cả lịch sử và hiện tại, câu trả lời khá buồn.
Trước đây, ta thường nghe báo chí nói rằng nhà đầu tư nước ngoài đánh giá rất cao người Việt Nam thông minh, cần cù, khéo tay… và tương lai không xa nữa nền kinh tế Việt Nam sẽ "hóa rồng", "hóa cọp".
Những lời có cánh sẽ chắp cho ước mơ của người Việt Nam bay bổng. Nhưng thực tế hiển nhiên và lời nói thật sẽ kéo ta về gần hơn với thực tại.
Một dân tộc thông minh, cần cù, khéo tay lẽ nào lại là chủ nhân của một quốc gia nhận viện trợ rất nhiều? Và là chủ nhân của một quốc gia có đôi lúc "không chịu phát triển" như lời chuyên gia kinh tế nước ngoài nói với bà Phạm Chi Lan?

 
Người Việt có tài giỏi như chúng ta đang tự hào?

 
Tháng 6 năm 2014, nhà cố vấn chính sách độc lập Simon Anholt công bảng xếp hạng "Good Country Index" (Chỉ số quốc gia tử tế), Việt Nam đứng áp chót bảng xếp hạng 124/125 nước được điều tra (chỉ trên mỗi quốc gia đang chìm trong nội chiến là Lybia).
Đây là chỉ số xếp hạng mức đóng góp của các quốc gia cho thế giới. Và như vậy, Việt Nam chúng ta là một trong những quốc gia có đóng góp tối thiểu cho phồn vinh nhân loại.
Tất nhiên sẽ có những người "phản pháo" Simon Anholt! Người Việt Nam có thể đổ lỗi rằng cơ chế, môi trường khiến chúng ta không thể phát huy hết năng lực của mình. Sẽ biện bạch rằng ở những nước phát triển, người Việt Nam thực sự không kém ai.
Người Việt thành danh tại nước ngoài, tiêu biểu có Giáo sư toán học Ngô Bảo Châu, GS.TS.Hùng Nguyễn (Đại học Sydney ở Australiavới phát minh xe lăn điều khiển thông qua ý nghĩ của con người), Bác sĩ Phạm Hoàng Tánh (Dr. Randal Pham - Chủ tịch Hội Y Bác sĩ Hoa Kỳ đã phát minh ra phương pháp mới giúp những người có bệnh về mắt không phải đeo kính)…
Về chính trị có Philipp Rösler – một người đã từng làm tới Phó thủ tướng của Cộng Hòa Liên Bang Đức… Còn rất nhiều người thành đạt mà do hiểu biết hạn hẹp của mình tôi không biết tên nữa.
Và du học sinh Việt Nam, sinh viên gốc Việt theo học tại Đài Loan, Nhật Bản, Hoa Kỳ, hay Tây Âu rất xuất sắc. Nhưng đấy là ta nói sự thành công vượt bậc của người Việt Nam và so sánh với chính người Việt Nam trong nước.
Vậy còn cộng đồng người Do Thái, Ấn kiều, người Hoa kiều, Myanmar… thì sao?
Cũng trong bảng xếp hạng "quốc gia tử tế", Simon Anholt xát muối thêm: "Đáng nói là, các chỉ số như số lượng sinh viên học tập tại nước ngoài, số bài báo quốc tế, số xuất bản phẩm quốc tế, số bằng sáng chế của Việt Nam theo bảng xếp hạng này đều ở mức thấp hơn so với trung bình chung của thế giới".


Và nhìn về lịch sử - nhìn về văn minh, văn hiến hay sức phát triển quốc gia, ta sẽ thấy người Việt Nam hôm nay còn rất nhiều tồn đọng cần vượt qua.
Hãy cứ so sánh Việt Nam trong không gian Á Đông để định vị lại chính mình.
Chữ viết là một trong những thước đo quan trọng của nền văn minh. Trong cuốn "Nguồn gốc gia đình và chế độ tư hữu", Friedrich Engels cho rằng chữ viết có vần và việc sử dụng chữ để ghi lời văn là bước chuyển qua thời đại văn minh.
Cha ông ta đã vật lộn với Hán tự rồi tạo ra chữ Nôm theo cách phức tạp hóa một thứ chữ vốn rất phức tạp. Chữ Nôm không thành công bất chấp việc những nhà trí thức khoa bảng, những vị minh quân Việt Nam bỏ công theo đuổi hàng trăm năm.


Nhưng ngót 600 năm trước, tại vương quốc Joseon (Triều Tiên), Sejong đại đế nhận ra chữ Hán rất khó học, không thể phổ cập cho bình dân, ông quyết tâm làm ra chữ viết riêng cho vương quốc của mình.
Vượt qua rất nhiều thử thách, cùng các bề tôi tin cẩn, Sejong đại đế đã sáng tạo ra Hangul với bảng chữ cái, nguyên âm và phụ âm. Đó là chữ viết của Hàn Quốc và Triều Tiên hôm nay.


Với Nhật Bản thì sao?
Trong lịch sử Nhật Bản có một giai đoạn mà đặc biệt đáng chú ý. Đó là việc Mạc phủ (tướng quân) nhà Tokugawa thực hiện chế độ Châu Ấn Thuyền (Shuinsen).
Những thuyền buôn Nhật Bản được cấp giấy thông hành (Châu Ấn Trạng) tỏa ra buôn bán khắp Nam Dương (vùng Đông Nam Á theo cách gọi của Nhật Bản).
Tại Việt Nam, những đoàn thuyền buôn Nhật Bản đã góp phần làm nên phố Nhật ở Hội An.

Người Việt Nam không sáng tạo ra chữ viết của mình (hoặc đến giờ chúng ta chưa tìm được những bằng chứng rõ ràng về chữ viết của người Việt cổ), cũng không buôn bán đường biển lừng lẫy như Nhật Bản.
So với Chiêm Thành, với Khmer, các công trình kiến trúc còn đến ngày nay đủ chứng minh các vương quốc này không hề thua kém Việt Nam về trình độ văn minh.
Người Khmer từng có một đế quốc rộng cả triệu km2 trước khi những sức mạnh của người Thái (vương quốc Xiêm – Siam) lan tràn trên bán đảo Indochina. Chiêm Thành đã từng là quốc gia mạnh về buôn bán đường biển.
Và hẳn nhiều người trong chúng ta cũng biết đến Đế quốc Majapahit với nền văn hóa rực rỡ ảnh hưởng đến quần đảo Mã Lai, góp phần quan trọng làm nên Indonesia ngày nay.


Không chỉ là lịch sử mà hiện tại, tương lai đang thách thức người Việt Nam.
30 năm đổi mới, GDP bình quân đầu người của nước ta tăng từ 86USD/năm/người lên 2.300 USD; từ năm 1989 đến cuối 2015 quy mô kinh tế tăng 32 lần (từ 6,3 tỷ USD lên 204 tỷ USD). Đó là một thành tựu lớn, nhưng đấy là ta tự hào với chính ta.
Sau 30 năm, nhiều quốc gia trong khu vực đã công nghiệp hóa thành công, còn Việt Nam mục tiêu "đến năm 2020, cơ bản thành một nước Công nghiệp" vẫn trở nên xa vời.
Năm 1990, khoảng cách về GDP bình quân đầu người của Việt Nam so với thế giới là 4.000 USD, đến nay đã là 8.000 USD.

Nhìn lại mình một cách chân thực là việc đầu tiên cần phải làm để tiến trình "Hóa rồng", "hóa Cọp" có thể khởi động thành công. Tự huyễn hoặc, chúng ta sẽ sa lầy trong những cái bẫy tự tạo ngay dưới chân mình.



Sông Hàn-Duy Linh VNN






10 điều khiến giáo dục Việt Nam tụt hậu

"Phụ huynh xem bằng cấp của con như trang sức, học sinh đối phó, sinh viên sư phạm không yêu nghề, cán bộ quản lý không đúng năng lực...", cô giáo Tô Thụy Diễm Quyên chỉ ra nguyên nhân đang kéo lùi sự phát triển của giáo dục Việt Nam.


Vẫn còn nhiều lý do nhưng 10 lý do này là những điều có thể khắc phục được, cần có tiếng nói chung và sự hợp tác của cả những người trong cuộc lẫn phụ huynh.

1. Giáo viên không thích học tập và phát triển chuyên môn vì lương không tăng theo trình độ và năng lực mà tăng theo thâm niên. Cơ chế đánh đồng năng lực khiến người giỏi mất dần nhu cầu phát triển.

2. Giáo viên giỏi nhưng lương không đủ sống nên phải ra ngoài kiếm ăn. Vì thế không còn sức để học tập và đầu tư cho phát triển chuyên môn, ngoại trừ việc sưu tầm đề thi để đi dạy thêm. Trong lớp thì dạy qua loa vì có tâm sức đâu mà đầu tư, có đầu tư cũng vẫn bị đánh đồng với người không đầu tư.

3. Các chương trình bồi dưỡng thường xuyên không phù hợp giáo dục hiện đại và cách tiếp cận lỗi thời nên kém tác dụng. 99% giáo viên phát triển năng lực bằng kênh duy nhất đó là đi tập huấn và bồi dưỡng thường xuyên. Giáo viên gọi đó là "đi chép phạt".

4. Quá nhiều cán bộ quản lý không đủ năng lực, không trọng dụng đúng người đúng việc, không chú trọng phát triển đội ngũ, không biết nhìn nhận, không chấp nhận sự phản biện và vì thế khó phát triển.

5. Nhiều người không yêu nghề nhưng vẫn vào nghề giáo vì không thể thi vào đâu khác. Sinh viên giỏi hiếm khi vào sư phạm, đầu vào của nghề giáo lẽ ra phải tinh hoa nhất thì lại không hút được người tài do nghề không hứa hẹn. Họ thiếu chữ Tâm lẫn năng lực sư phạm nên đã làm hỏng hình ảnh người thầy dẫn đến mất lòng tin của xã hội.

6. Phụ huynh xem việc học và bằng cấp của con như trang sức của mình nên ép con học ngày học đêm để hơn con người khác. Họ không biết con mình thuộc trí thông minh dạng nào, năng lực tốt nhất là gì, mục tiêu ra sao mà chỉ cần điểm số do đó không quan tâm chất lượng giáo dục thực sự mà chỉ quan tâm bằng cấp và giấy khen.

7. Những người giỏi không chịu nổi cách làm việc áp đặt và quan liêu của đại đa số cán bộ quản lý nên giáo dục không hút được nhân tài.

8. Học sinh không được dạy cách học tập chủ động mà chỉ học đối phó. Học sinh không xác định được mục đích việc học mà chỉ học để thực hiện mong muốn của bố mẹ và bố mẹ nào cũng mong con mình là bác sĩ, kỹ sư. Thực lực những người trẻ thiếu kỹ năng, dư bằng cấp là một biểu hiện lệch lạc của giáo dục, không chỉ là lỗi của giáo dục mà còn là lỗi của cả phụ huynh.

9. Chương trình giảng dạy thiếu khoa học. Không dễ gì mà giáo viên được phép sáng tạo bởi sự quy chụp của những người đi thanh tra thường dùng chiếc mũ "sai quy chế" hoặc "sách giáo khoa là pháp lệnh". Sách giáo khoa của Việt Nam nặng về lý thuyết và kém về ứng dụng.

10. Nhiều cuộc thi không thực tế mà chỉ như sân khấu và tất cả cùng diễn để lấy thành tích. Cách đánh giá giáo viên giỏi không dựa vào kết quả sản phẩm giáo dục là học sinh mà chỉ dựa vào những gì giáo viên "diễn" trong một tiết dạy đã chuẩn bị công phu. Cách đánh giá học sinh cũng chỉ đánh giá được khả năng ghi nhớ thông tin, tức là bậc thấp nhất của nhận thức và tư duy. Những phương pháp rèn luyện và đánh giá được kỹ năng thì chưa có thang điểm chính thức, do đó bị xem nhẹ.


Giáo viên Tô Thụy Diễm Quyên, TP HCM








"Các anh sẽ muôn đời khổ"

Người Nhật thật sự đánh giá thế nào về người Việt Nam: "các anh sẽ muôn đời khổ"  

Một kỹ sư Nhật khi về nước đã không ngại ngần nói với người công nhân VN: 'Người Việt các anh sẽ muôn đời khổ. Đấy là vì các anh chỉ biết nghĩ đến những cái lợi lộc nhỏ của cá nhân mà không biết nghĩ đến cái lợi lớn của chung'. Rồi viên kỹ sư minh hoạ: 'Một cái vít chúng tôi phải mang từ Nhật sang giá 40.000đ mà rơi xuống đất thì CN VN các anh thản nhiên dẫm lên hoặc đá lăn đi mất vì nó ko phải của các anh. Nhưng các anh đánh rơi điếu thuốc lá đang hút dở giá 1.000đ thì các anh sẵn sàng nhặt lên và hút tiếp cho dù nó bị bẩn chỉ vì nó là của các anh. Hay như cuộn cáp điện chúng tôi nhập về giá 5tr/m, nhưng các anh cắt trộm bán được có vài trăm nghìn/m. Tất cả những việc làm đó mang lại chút lợi lộc cho các anh nhưng gây thiệt hại lớn cho doanh nghiệp vì chúng tôi phải nhập bổ sung hoăc nhập thừa so với cần thiết'.
Còn lái xe của viên kỹ sư đó thì được nghe ông ấy tặng quà có giá trị và được nghe ông ấy “tâm sự” như sau: 'Tôi rất cảm ơn anh lái xe an toàn cho tôi suốt 5 năm qua. Vì anh là người bảo đảm mạng sống của tôi nên anh làm gì tôi cũng chiều nhưng anh đừng tưởng anh làm gì sai mà tôi không biết. Anh đưa đón tôi ra sân bay quãng đường chỉ hơn 30km anh khai là hơn 100km tôi cũng ký, anh khai tăng việc mua xăng, thay dầu tôi cũng ký là vì tôi cần anh vui vẻ lái xe để tôi được an toàn. Nhưng anh và các CN VN đừng tưởng là các anh vặt được người Nhật. Các anh nên biết rằng lẽ ra chúng tôi có thể trả lương cao hơn hoặc tăng lương nhiều hơn cho các anh. Nhưng đáng phải tăng lương cho các anh 500.000 thì chúng tôi chỉ tăng 200.000. Còn 300.000 chúng tôi phải giữ lại để chi trả bù đắp cho những trò vụn vặt hay phá hoại của các anh. Cuối cùng là tự các anh hại các anh thôi. Còn chúng tôi cũng chỉ là lấy của người Việt cho người Việt chứ chúng tôi không mất gì cả'.


Đừng bao giờ trách móc

Người Tốt sẽ cho bạn Hạnh Phúc…
Người Xấu cho bạn Kinh Nghiệm…
Người Tồi Tệ nhất cho bạn Bài Học…

Người Tuyệt Vời Nhất sẽ cho bạn Kỷ Niệm.
Đừng hứa khi đang… vui !
Đừng trả lời khi đang… nóng giận !
Đừng quyết đinh khi đang… buồn !
Đừng cười khi người khác… không vui !
Cái gì mua được bằng tiền, cái đó rẻ.
Ba năm học nói, một đời học cách lắng nghe
Chặng đường ngàn dặm luôn bắt đầu bằng một bước đi.
Đừng a tòng ghen ghét ai đó, khi mà họ chẳng có lỗi gì với ta.



Tuy trong rừng có nhiều cây đại thọ cả ngàn năm, nhưng người sống thọ đến 100 tuổi không nhiều. Bạn thọ lắm cũng chỉ sống đến 100 tuổi (tỉ lệ 1 trên 100.000 người).

Nếu bạn sống đến 70 tuổi, bạn sẽ còn 30 năm. Nếu bạn thọ 80 tuổi, bạn chỉ còn 20 năm. Vì lẽ bạn không còn bao nhiêu năm để sống và bạn không thể mang theo các đồ vật bạn có, bạn đừng có tiết kiệm quá mức.

(Trên 50t mừng từng năm, qua 60t mong hàng tháng, tới 70t đếm mỗi tuần, đến 80t đợi vài ngày, được 90t …ngơ ngác một mình với giờ phút dài thăm thẳm !)


Bạn nên tiêu những món cần tiêu, thưởng thức những gì nên thưởng thức, tặng cho thiên hạ những gì bạn có thể cho, nhưng đừng để lại tất cả cho con cháu. Bạn chẳng hề muốn chúng trở nên những kẻ ăn bám.

Đừng lo lắng về những gì sẽ xảy ra sau khi bạn ra đi, vì khi bạn đã trở về với cát bụi, bạn sẽ chẳng bị ảnh hưởng bởi lời khen hay tiếng chê bai nữa đâu.

Đừng lo lắng nhiều qúa về con cái vì con cái có phần số của chúng và chúng sẽ tự tìm cách sống riêng. Đừng trở thành kẻ nô lệ của chúng.

Đừng mong chờ nhiều ở con cái. Con biết lo cho cha mẹ, dù có lòng vẫn quá bận rộn vì công ăn việc làm và các ràng buộc khác nên không thể giúp gì bạn.

Các con vô tình thì có thể sẽ tranh dành của cải của bạn ngay khi bạn còn sống, và còn muốn bạn chóng chết để chúng có thể thừa hưởng các bất động sản của bạn.

Các con của bạn cho rằng chuyện chúng thừa hưởng tài sản của bạn là chuyện dĩ nhiên nhưng bạn không thể đòi dự phần vào tiền bạc của chúng.

Với những người thuộc lứa tuổi 60 như bạn, đừng đánh đổi sức khoẻ với tài lực nữa. Bởi vì tiền bạc có thể không mua được sức khoẻ. Khi nào thì bạn thôi làm tiền? và có bao nhiêu tiền là đủ (tiền muôn, tiền triệu hay mấy chục triệu)?

Dù bạn có cả ngàn mẫu ruộng tốt, bạn cũng chỉ ăn khoảng 3 lon gạo mỗi ngày; dù bạn có cả ngàn dinh thự, bạn cũng chỉ cần một chỗ rộng 8 mét vuông để ngủ nghỉ ban đêm.

Vậy chừng nào bạn có đủ thức ăn và có đủ tiền tiêu là tốt rồi.
Nên bạn hãy sống cho vui vẻ. Mỗi gia đình đều có chuyện buồn phiền riêng.

Đừng so sánh với người khác về danh vọng và địa vị trong xã hội và con ai thành đạt hơn, nhưng bạn hãy so sánh về hạnh phúc, sức khỏe và tuổi thọ… Đừng lo nghĩ về những chuyện mà bạn không thể thay đổi vì chẳng được gì, mà lại còn làm hại cho sức khỏe bạn…

Bạn phải tạo ra sự an lạc và tìm được niềm hạnh phúc của chính mình. Miễn là bạn phấn chấn, nghĩ toàn chuyện vui và làm những việc bạn muốn mỗi ngày một cách thích thú thì bạn thật đã sống hạnh phúc từng ngày.

Một ngày qua là một ngày bạn mất đi, nhưng một ngày trôi qua trong hạnh phúc là một ngày bạn “được”.


Khi bạn vui thì bệnh tật sẽ lành; khi bạn hạnh phúc thì bệnh sẽ chóng hết. Khi bạn vui và hạnh phúc thì bệnh sẽ chẳng đến bao giờ.


Với tính khí vui vẻ, với thể thao thể dục thích đáng, thường xuyên ra ánh sáng mặt trời, thay đổi thực phẩm đa dạng, uống một thuốc bổ vừa phải, hy vọng rằng bạn sẽ sống thêm 20 hay 30 năm tràn trề sức khỏe.

Và nhất là biết trân qúy những điều tốt đẹp quanh mình và còn BẠN BÈ nữa... họ đều làm cho bạn cảm thấy trẻ trung và có người cần đến mình… không có họ chắc chắn bạn sẽ cảm thấy lạc lõng, bơ vơ.!!!










Có một cuộc sống ít buồn phiền!



1. Sự thanh tịnh nằm ở trong tâm
Cả đời làm việc, đến cuối cùng chỉ muốn bản thân được an nhàn để hưởng thụ cuộc sống. Bạn luôn muốn tìm kiếm sự thanh tịnh ở bên ngoài trong khi bạn không phát hiện rằng nó là cái mà ai cũng có thể đạt được mà chỉ cần lấy ra từ trong tâm. Nếu tâm của bạn bớt sân si, bớt ganh đua thì tự khắc bản thân sẽ thấy thật thanh thản và thấy đời bỗng nhẹ nhàng làm sao.

2. Tức giận chỉ là một cục than hồng có thể làm đau người khác, nhưng người bị bỏng đầu tiên chính là bản thân bạn
Sẽ có lúc bạn cáu gắt với mọi người nhưng bạn đâu ngờ điều đó lại làm hại chính bản thân mình. Đừng bao giờ nói bất kì câu gì khi bạn tức giận. Người ta thường nói : “Giận quá mất khôn”. Tôi nghĩ điều đó rất đúng, bởi tôi đã từng đánh mất một người bạn của mình chỉ vì nói ra những lời nặng nề kinh khủng khi bạn đó không làm tôi vừa ý. Lúc đó, tôi làm tổn thương người ấy để bây giờ tôi đánh mất một người bạn thân.

3. Suy nghĩ sẽ định hình con người bạn
Chúng ta nghĩ thế nào thì con người chúng ta như thế ấy. Bạn nghĩ bạn vô dụng, chắc chắn bạn sẽ không bao giờ làm nên trò trống gì vì bạn chẳng thèm hành động. Bạn nghĩ bạn thông minh, dĩ nhiên bạn sẽ thông mình vì tự bản thân sẽ biết cách tạo nên điều đó. Chỉ cần suy nghĩ tích cực thì mọi chuyện sẽ tốt đẹp thôi! Do đó, cuộc sống cũng sẽ ít buồn phiền, vì lúc nào bạn cũng cố biến mọi thứ bạn gặp phải trong cuộc sống thành niềm vui riêng cho mình.

4. Biết người là thông minh, biết mình là sự giác ngộ
Chiến thắng bản thân còn hơn là chiến thắng cả ngàn trận đánh. Đó là một bài học sâu sắc mà ai cũng cần biết. Tự chinh phục chính mình chính là ải lớn nhất mà con người phải trải qua. Do đó, chúng ta phải tập thiền định để hiểu về chính bản thân mình. Biết được bản thân thích gì, làm gì để thỏa mãn nó chính là cách để bạn sống vui hơn mỗi ngày. Đừng tưởng đây là điều dễ thực hiện vì có người đã mất cả đời chỉ để làm điều này thôi đấy! Chính tôi cũng là người sẽ phải rèn luyện nhiều trong thời gian tới.

5. Thay thế đố kị bằng ngưỡng mộ
Còn đố kị thì tâm bạn sẽ còn buồn phiền. Thay vào đó, chúng ta nên đón nhận sự thành công của người khác bằng sự ngưỡng mộ. Tâm bình thản rồi lấy cái tốt của người khác để làm gương sẽ khiến bạn dễ dàng phấn đấu mà không có sự căm phẫn. Đố kị chỉ làm lòng người thêm nhơ bẩn, thậm chí vì đố kị con người có thể biến chất, trở thành người chuyên làm những hành động xấu xa mà đôi khi chính bản thân mình cũng không ngờ tới.

6. Nhân từ với tất thảy mọi người
Luôn luôn nhẹ nhàng với trẻ con, yêu thương người già, đồng cảm với người cùng khổ, nhân từ với kẻ yếu thế và người lầm lỗi. Một lúc nào đó trong đời, bạn sẽ rơi vào những hoàn cảnh đó. Động lòng trắc ẩn với mọi người, kẻ giàu cũng như người nghèo; ai cũng có nỗi khổ. Có người chịu khổ nhiều, có người chịu khổ ít.
Nhân từ để yêu thương và đồng cảm với họ. Vì mỗi người có một nỗi khổ riêng chỉ có họ mới thấu. Bởi vì bạn luôn nhìn người bằng con mắt nhân từ nên đời bạn sẽ luôn đẹp. Mọi thứ đều hoàn hảo. Tâm can được thanh lọc bởi những hành động mà bạn dành cho người khác.

7. Tùy duyên
Bài học sâu sắc cuối cùng mà tôi đã học được chính là để mọi thứ tùy duyên. Như nhà sư đã nói, cái gì của mình thì nó sẽ thuộc về mình, còn cái gì không phải thì nó mãi mãi sẽ không thuộc về mình. Vì vậy, nếu muốn nắm bắt gì đó, đặc biệt là tình yêu thì hãy để tùy duyên.
Bạn có thể cố gắng theo đuổi nhưng có lúc bạn cũng phải biết buông bỏ nếu mọi chuyện đã quá giới hạn và không còn khả năng cố gắng. Cứ nắm giữ chỉ làm bạn đau khổ rồi vấn vương muộn phiền sẽ là điều không thể né tránh. Tâm sẽ nhẹ nhàng nếu bạn để mọi thứ tùy duyên. Đó là cách để bạn có thể chấp nhận cuộc sống dễ dàng hơn.







"Con bé biến chất" Ái Vân giữa Sài Gòn hoa lệ*

Cuốn sách không chỉ là chuyện đời tư của một nghệ sĩ nổi tiếng có cuộc sống đầy thăng trầm, thậm chí có lúc đắng cay, mà còn là chuyện mưu sinh và hoạt động nghệ thuật của người nghệ sĩ VN trong bối cảnh đặc biệt của đất nước và ở hải ngoại. Thanh Niên xin trích giới thiệu cùng độc giả.
Tháng 4.1975, khi đang học năm thứ 2 Nhạc viện Hà Nội, tôi được thầy Nguyễn Văn Thương nhắn lên phòng giám hiệu: “Bên đài truyền hình cần bổ sung xướng ngôn viên để vào tiếp quản Sài Gòn vì bên ấy thiếu người quá. Ông Tố Hữu đề nghị chọn Ái Vân”. Sáng sớm 29.4.1975, chiếc xe “pa” chuyển bánh từ trụ sở Ban Tin tức Đài tiếng nói VN trực chỉ Sài Gòn.
Một Sài Gòn khác
Ở Hà Nội nhỏ bé xinh xinh, vào Sài Gòn thấy ngợp. Ra chợ Bến Thành thấy người dân khác hẳn. Lúc đó người Sài Gòn không dám ăn diện như trước, nhưng vẫn thấy sự khá giả trên những bộ đồ họ mặc. Họ đón nhận mình với thái độ vui mừng một cách gượng gạo, có phần nghi ngại. Dân Sài Gòn thấy ai từ bắc vào đều gọi là bộ đội. “Bộ đội” truyền hình ca nhạc cô nào cũng coi được, mấy bà mấy cô cứ xúm lại mấy chị em xuýt xoa: “Bộ đội mà sao da trắng bóc hà?”. Nhiều người còn cầm tay tôi ngạc nhiên bảo: “Ủa, nghe nói bộ đội rút móng tay người ta. Cô này bộ đội nè, sao móng tay còn nguyên nè, ngộ quá há”.
Tôi mua vài thứ lặt vặt, đưa tiền ngoài bắc, cô bán hàng tính ra 1 đồng ăn 1.000 đồng tiền Sài Gòn, cả chợ ồ lên nói: “Trời, tiền ngoài bắc còn giá trị hơn tiền dollar à”. Cô bán hàng nói: “Em chờ chút để qua đổi tiền thối nha”. Tôi cãi: “Không, tiền em không thối đâu ạ”.
Trước đây cứ nghe nói đồng bào miền Nam “bị Mỹ ngụy kìm kẹp” khổ lắm, rất cần sự giúp đỡ từ miền Bắc, cứ hình dung dân Sài Gòn đói khổ lắm. Mới vào Sài Gòn tôi rất ngỡ ngàng. Chỉ cần nhìn cách ăn mặc, trang điểm, đi lại, ăn nói nhẹ nhàng; chỉ cần ra chợ mua gì cũng có câu cảm ơn và túi ni lông đựng đồ đủ biết mình không cùng đẳng cấp văn minh với người ta rồi. Biết mình bị ngộ nhận với thông tin lệch lạc.
Theo địa chỉ ba cho từ ngoài bắc, tôi tìm đến nhà cô Hà Thị Tuyết, ở nhà gọi là cô Cả, là chị lớn của ba.
Khi đến thăm cô Cả, cô sinh viên nghèo Ái Vân cũng mang biếu gia đình chút quà từ tiêu chuẩn ăn của mình. Con dâu trưởng của cô Cả hỏi: “Cô mang cho chúng tôi quà gì thế?”. Tôi trịnh trọng vừa mở bọc ni lông vừa nói: “Em biếu gia đình 2 cân gạo ạ, chắc nhà mình cũng đang cần”.
Ối giời, cả nhà cười nghiêng ngả: “Giời ạ. Lại mang gạo cứu trợ cho chúng tôi nữa cơ đấy. Khổ thân em”. Rồi chị dắt tôi tới mở thùng gạo to tướng bằng nhựa, bên trong đầy ắp gạo, thứ gạo trắng muốt và thơm phức, nõn nà. Bây giờ tôi mới để ý trong nhà ngoài ti vi, tủ lạnh, còn có máy giặt và nhiều thứ lạ lẫm khác cho thấy một cuộc sống rất tiện nghi, không thể có bất kỳ nhà nào ở miền Bắc tại thời điểm đấy, dù là nhà ông Thủ tướng.


“Thay lốt”
Dần dần tôi gặp rất nhiều văn nghệ sĩ ngoài bắc vào. Gặp nhau ở Sài Gòn vui hơn tết. Mới biết Bộ Văn hóa phát lệnh “Tổng tiến công” bằng 7 đoàn văn hóa nghệ thuật tiến vào nam trên một chiếc tàu thủy.
Những ngày đầu ở Sài Gòn tôi có dịp được gặp nghệ sĩ Kim Cương và ông xã. Ở chị Kim Cương toát lên vẻ duyên dáng, tự tin, sang trọng mà không kiêu kỳ, ngược lại rất ân cần và điềm đạm. Vợ chồng chị Kim Cương cũng cho tôi đi gặp vợ chồng anh chị Lý Quí Chung. Chị vợ anh Lý Quí Chung cứ nhìn tôi, cái nhìn là lạ. Về nhà chị Chi, con gái cô Cả, tôi vui chuyện kể lại. Chị Chi cười, nói: “Cô xem cô mặc bộ đồ kỳ vậy, cái quần chó táp 7 ngày không tới ai mà không lạ”.
“Để tui thay lốt cho cô”, chị Chi nói và kéo tôi ra chợ Bến Thành chọn vải rồi về tiệm, đo người xong, chị bảo sẽ may gấp, hẹn hai, ba ngày sau sẽ đến lấy.
Thử quần áo, vừa in. Một bộ áo chẽn trắng sọc xanh da trời nhạt, quần ống loe vải gin xanh nội hóa, bộ kia cũng kiểu như vậy nhưng tone màu hồng sắc tím. Nhìn trong gương như thấy một người nào khác, văn minh, cao ráo và “lên chân kính” hẳn. Tiện thể, chị Chi lấy chiếc kính râm to bản đang để trên bàn bảo tôi mang vào luôn. Chị Chi hãnh diện nhìn “tác phẩm” của chị, bảo: “Đẹp lắm, bây giờ thì đúng là con gái Sài Gòn rồi”. Nói xong chị gói luôn bộ quần áo ka ki tôi mặc bỏ vào cái túi.
Tôi mặc bộ đồ mới ra đường, rất khoái chí. Về đến nơi vừa đúng lúc đang họp đoàn, cô Bích Hường đang phát biểu cái gì vẻ căng lắm. Vừa thấy tôi hớn hở bước vào, cô nói: “Có những đồng chí vừa mới vào Sài Gòn được mấy bữa mà đã biến chất, thay đổi từ đầu đến chân, chưa gì đã áo chẽn, quần loe, mang kính râm to bản, thí dụ như đồng chí Ái Vân”. Ối giời, con bé choáng váng rụng rời, ngay sau đó vội vàng giấu ngay “tang vật”.
Buồn cười là những người phê phán “đồng chí Ái Vân” mấy tuần sau chính họ cũng kính râm to bản, một số quần loe, chân đi guốc “gộc”, một số thì áo dài thướt tha, phóng xe Honda chạy vù vù khắp Sài Gòn. Còn “đồng chí biến chất” này suốt mấy tháng còn lại trong Sài Gòn đành diện bộ đồ “chó táp 7 ngày không tới”.
(*) Tựa do tòa soạn đặt



Ái Vân
Báo Thanh Niên

Thiền ...


Nếu ai đi phố Tàu ở Mỹ cũng đều thấy tượng của một vị mập mạp mang một túi vải. Những khách buôn người Hoa gọi là Ông Tầu vui vẻ hay Ông Phật cười. Thực ra ông này tên là Bố Đại, sống ở thời nhà Đường. Ông chẳng muốn tự gọi mình là thiền sư hoặc đi kết nạp môn đồ.

Ông rảo khắp phố phường, vai mang một cái túi vải lớn trong đó chứa đủ thứ kẹo, bánh, trái cây người ta cúng biếu, rồi ông lại phát cho lũ trẻ hay chạy theo ông vui đùa. Ông đã tạo nên một nhà trẻ giửa phố. Khi nào ông gặp một kẽ mộ đạo, ông ngữa tay xin: "Cho tôi một hào." Và nếu có ai bảo ông trở về chùa mà thuyết pháp, ông lại trả lời: "Cho tôi một hào."

Một hôm đang vui chơi với đám trẻ, tình cờ có một thiền sư đi qua, dừng lại hỏi: "Thế nào là ý nghĩa của Thiền?"
Lập tức, Bố Đại yên lặng bỏ túi vải nặng nề xuống đất.
Vị thiền sư kia hỏi tiếp: "Thế thì, cái thực dụng của Thiền là gì?" Nhanh chóng, Ông Tầu vui vẻ vác cái bị lên vai và tiếp tục đi.
  



 Không xa cõi Phật

Một sinh viên đại học đến thăm vị thiền sư và hỏi: "Có bao giờ ngài đọc Thánh kinh không?"

"Không, hãy đọc cho ta nghe," thiền sư bảo.

Người sinh viên mở cuốn Thánh kinh và đọc một đoạn ở phần Thánh Ma-thi-ơ (Matthew): "Còn về đồ mặc, sao các ngươi lo lắng làm chi? Hãy gẫm xem hoa huệ ngoài đồng lớn lên thế nào: chẳng lao khổ, chẳng kéo chỉ, nhưng ta nói cùng các ngươi, dẫu Sa-lô-môn vinh hiển cả thể, cũng không mặc được bằng một trong những hoa ấy... Vậy nên, chớ lo lắng chi về ngày mai, vì ngày mai sẽ tự lo lắng cho ngày mai." Thiền sư bảo: "Ai đã nói được những lời đó, ta cho là kẽ giác ngộ."

Người sinh viên đọc tiếp: "Hãy xin, sẽ cho, hãy tìm, sẽ gặp; hãy gỏ, sẽ mở cho. Vì hễ ai xin thì được, ai tìm thì gặp, ai gỏ thì được mở cho."

  Thiền sư nhận xét: "Thật tuyệt. Ai nói điều ấy không xa cõi Phật là bao."







Thế giới thi ca tư tưởng Bùi Giáng

Nguồn: Tâm Nhiên

Viện Đại học Vạn Hạnh ở Sài Gòn, thủ đô miền Nam Việt Nam trước năm 1975 là một trung tâm văn hóa Phật giáo nổi tiếng lừng lẫy. Nơi đây đã quy tụ biết bao hào kiệt trượng phu, biết bao tao nhân mặc khách, biết bao giáo sư, triết gia, văn nghệ sĩ cự phách thượng đẳng.

Đặc biệt là các thiên tài xuất chúng siêu việt như Phạm Công Thiện, Tuệ Sỹ, Lê Mạnh Thát, nổi bật nhất là Bùi Giáng, một thi sĩ kỳ dị xưa nay chưa từng thấy xuất hiện trên bầu trời văn nghệ Việt Nam và thế giới.

Tạp chí Tư Tưởng do viện trưởng Thích Minh Châu làm chủ nhiệm là cơ quan luận thuyết là tiếng nói của viện Đại học Vạn Hạnh, thường xuyên đăng tải bài viết của các bậc cao thủ này. Những tác phẩm thi ca, tư tưởng, triết lý, đạo lý của họ vô cùng thâm thúy, có giá trị mãi cho đến ngày hôm nay.
Lúc bấy giờ có nhà xuất bản An Tiêm do Thanh Tuệ làm giám đốc, vì một cơ duyên hy hữu nào đó đã dốc toàn tâm toàn lực ra để lo cho công việc in ấn riêng biệt những tác phẩm thơ văn, biên khảo, dịch thuật của Bùi Giáng. Sức sáng tạo của thi sĩ vào thời gian này, từ năm 1960 đến năm 1975 rất mãnh liệt, như ngọn lửa thiêng sáng bừng rực rỡ khắp trời đất u huyền, khiến cho nhà xuất bản An Tiêm in ấn không kịp :
Tưng bừng xuất bản An Tiêm
Ấn hành cổ lục chung niềm cảo thơm
Mưa nguồn tuôn ngát xanh rờn
Ngàn thu rớt hột cô đơn cuối bờ

Đó là một điều không ai hiểu nổi vì suốt ngày thâu đêm, người ta chỉ thấy một Bùi Giáng lang thang rong chơi, nhảy múa ngoài đường. Thường ngâm thơ uống rượu lu bù với mọi giới bình dân đây đó, bạ đâu ngủ đấy ngay ngoài vỉa hè xó chợ, góc quán hiên chùa, rong rêu lêu lổng khắp đầu phường cuối phố, ngao du trào lộng giữa ta bà, quá độ nồng say như Tản Đà, Lý Bạch nhưng vẫn thung dung :
Uống xong ly rượu cuối cùng
Bỗng nhiên chợt nhớ đã từng đầu tiên
Uống như uống nước ngọc tuyền
Từ đầu tiên mộng tới phiền muộn sau
Uống  xong ly rượu cùng nhau
Hẹn rằng mai sẽ quên nhau muôn đời
Em còn ở lại vui chơi
Suốt năm suốt tháng suốt nơi lan tràn
Riêng anh về suốt suối vàng
Trùng phùng Lý Bạch nghênh ngang Tản Đà

Thi sĩ sống không nhà cửa, không vợ con, không tài sản, không sự nghiệp, không danh lợi, không là gì cả ngoài một bầu rượu túi thơ và một bộ quần áo xốc xếch cũ mèm, rách nát tả tơi, trông giống như một Tế Điên, một Hàn San, Thập Đắc, một gã ăn mày quái dị lạ lùng. Thế mà sức sáng tạo, sáng tác quá đỗi rạt rào như thác đổ trào tuôn, thật là vô tiền khoáng hậu. Nhà thơ viết như thần nhập, như nhảy tung vào cõi mật ngôn ẩn ngữ, làm khơi mở mối giềng xiết bao rực cháy, gây nên một nguồn cảm hứng tưng bừng, dậy sóng phiêu bồng cho biết bao kẻ đồng điệu, đồng cảm vút hồn bay chuếnh choáng, ngất ngây trong cơn say sưa túy lúy.
Thi sĩ Bùi Giáng sinh năm 1926 tại Quảng Nam, quả nhiên là một hiện tượng kỳ lạ mà cho đến ngày nay, chưa một ai có thể hiểu thấu đáo về thế giới tâm hồn hoằng đại, cõi tư tưởng hoằng viễn thâm hậu và cõi thi ca  bát ngát vô song  đó. Có người hỏi tiểu sử thì Bùi Giáng cười đáp : “Thi sĩ sinh ra như mọi người giữa cỏ cây gay cấn ly kỳ và sẽ chết đi giữa cỏ cây ly kỳ gay cấn… Thuở nhỏ bỏ học về nhà quê, làm thơ tặng chuồn chuồn và châu chấu.”  Hỏi về sự sáng tác phi thường thì lai  rai nói : “Con chim thì ta biết nó bay, con cá thì ta biết nó lội, thằng thi sĩ thì ta biết nó làm thơ nhưng thơ là gì, thì đó là điều ta không biết.”
Tuyệt mù những ngày quá mộng thời còn thanh xuân lang thang ở Huế, Quế Sơn, Hội An, Vĩnh Điện, Đà Nẵng… Đến năm 1952, lúc mới 24 tuổi, thi sĩ lên đường phiêu lưu vào Sài Gòn, bắt đầu cuộc lữ phiêu bồng khốc liệt. Từ đó cho đến nay, suốt mấy chục năm trời viễn du biền biệt, chưa một lần quy hồi cố quận nhưng lòng thì vẫn nhung nhớ triền miên :
Điện Bàn Đại Lộc Duy Xuyên
Xiết bao tình nghĩa thần tiên mộng đầu
Vĩnh Trinh Lệ Trạch Thanh Châu
Thi Lai Hà Mật nhìn đâu dáng người
Người đầu tiên đã mỉm cười
Nhìn tôi tưởng thấy niềm vui vô cùng
Tôi ngồi tưởng nhớ mông lung
Tưởng từ chín suối tới bao dung Bầu Trời

Thi sĩ khơi vơi ngồi nhớ quê như thế. Quê hương cố xứ bên dòng sông Thu Bồn ở Duy Xuyên Quảng Nam. Về sở học của nhà thơ, quả thật là thông đạt quảng bác vô cùng, làu thông nhiều ngôn ngữ như Anh, Pháp, Đức, Hán. Không biết thi nhân tự học từ lúc nào mà trở thành một bậc thượng trí, hầu như vô sư tự ngộ, chỉ do đọc sách  mà phát minh tâm địa như trường hợp thiền sư Huyền Giác đọc kinh Duy Ma Cật mà hoát nhiên triệt ngộ chân lý diệu thường. Từ đó, trọn suốt cuộc đời thi sĩ cứ phiêu nhiên trên con đường thênh thang sáng tạo, bước đi thi ca tỏa rợp trời thơ đất mộng bồng bềnh, bát ngát phiêu diêu.
Nhiều người cho rằng Bùi Giáng là một gã cuồng sĩ điên rồ hay một đại thi hào, một Bồ tát nghệ sĩ gì gì đó cũng được, chỉ là những danh từ, khái niệm mà thôi. Điều cần thiết phải làm là chúng ta hãy đi vào bên trong tâm hồn phong phú, thể hiện qua tác phẩm, may ra có khám phá được điều gì mới mẻ trong cõi tư tưởng của nhà thơ tài hoa này hay không ?
Tư tưởng trong thơ Bùi Giáng là gì ? Nhưng tư tưởng là chi ? Theo Tuệ Sỹ thì : “Tư tưởng là Con Đường, là Đạo, là Tiếng Gọi mời ta lên đường. Chính bằng và trên Con Đường ấy, chúng ta mới có thể bắt gặp được bóng dáng của con người.”*
Vâng, tư tưởng là con đường mời gọi chúng ta hành động và do vậy, do bởi hành vi tư tưởng cho nên hành động mới mang một ý nghĩa hoàn toàn mới mẻ mới lạ. Tư tưởng thi ca Bùi Giáng khởi phát rạt rào từ suối nguồn sâu thẳm tâm linh, từ cõi ban sơ tịch mịch khôn dò. Đó là cõi bờ âm thanh vi diệu ngữ của trời trăng mây nước, chim bướm cỏ hoa và ánh sáng rạng rỡ huyền hòa, là bước đi đã đạt tới cảnh giới thượng thừa thi sĩ, chỉ có thể cảm nhận chứ không thể suy nghĩ luận bàn.
Đi vào cõi thơ Bùi Giáng, chúng ta cần phải buông xuống cái biên kiến, chấp thủ và chỉ khi nào cái bản ngã hạn hẹp của mình được chuyển hóa thì lúc ấy chúng ta mới lãnh hội, tương ứng với ngôn ngữ chân thực nghĩa tân kỳ của thi ca, của một cái gì vốn dĩ vô ngôn mà phải nói đột xuất bất ngờ :
Ấy là nhạc ? Ấy là thơ ?
Ấy là rượu đế một giờ bỗng dưng ?
Ấy điên đảo ? Ấy điệp trùng ?
Ấy từ vô tận lừng khừng mà ra
Thưa em ngôn ngữ thật là
Cái gì như thể ngọc ngà thiên hương

Thưởng thức thơ Bùi Giáng, nên thưởng thức như Phạm Công Thiện nói : Đọc thơ cũng giống như đọc kinh. Phải thọ, trì, đọc, tụng. Đọc không phải để hiểu mà để biết. Biết cái thâm mật của một giây phút thoáng qua nhanh chóng hơn ánh sáng và biết cái thâm mật của tam thiên đại thiên thế giới, của vô số hằng hà tỉ tỉ thiên hà trong lòng ta và ngoài kia không gian phiêu dật, mà lòng ta là tất cà không gian phiêu dật.
Tại sao Nguyễn Du thường sử dụng chữ biết trong thơ và ít khi dùng chữ hiểu ? Đây là một sự việc quảng mật cần nên biết trong tương lai của văn hóa Việt Nam. Thơ là cái gì mà chỉ nên biết chứ không thể hiểu, may ra thì chúng ta có thể biết được cái thâm mật, cái quảng mật và cái thâm quảng mật, có thể biết được sơ sơ qua loa, chứ không thể nào hiểu được. Đó là diệu nghĩa vô lượng của tam mật, tam muội trong thơ văn của những thiên tài vĩ đại trên thế giới.”
**
Bùi Giáng đương nhiên là một thi sĩ thiên tài, siêu quần bạt tụy rồi. Tư tưởng nhà thơ bao trùm khắp thiên hạ và thấu đạt hết ý nghĩa sâu xa thâm trầm của đạo học Đông phương cũng như triết lý Tây phương. Hầu hết các bậc đạo sư, thiền sư, văn nghệ sĩ phương Đông như Đức Phật, Duy Ma Cật, Long Thọ, Mã Minh, Thế Thân,  Bồ Đề Đạt Ma, Huệ Năng, Huyền Giác, Lâm Tế, Tuệ Trung Thượng Sĩ, Khổng Tử, Lão Tử, Trang Tử, Lý Bạch, Tô Đông Pha, Tô Mạn Thù, Đỗ Phủ, Nguyễn Du, Tản Đà  đến các triết gia, văn hào, thi sĩ vĩ đại của phương Tây như Martin Heidegger, Nietzsche, Holderlin, Wart Whitman, Shakespeare, Gerard Nerval, Kierkegaard, Malraux, Karl Jaspers, Albert Camus, Saint Exepery, Andre Gide, Apollinaire, Emily Dickinson, Paul Eluard, Dylan Thomas, Saint John Perse, Rimbaud, Rainer Maria Rilke… đều được thi nhân nói đến một cách rốt ráo cặn kẽ, tận sâu vào mạch ngầm tư tưởng uyên nguyên, uyên áo vô cùng.
Chúng ta hãy nghe Bùi Giáng phát biểu về thi ca : “Thơ là cái gì không thể bàn tới, không thể dịch, diễn được. Người ta có thể diễn tả một trận mưa bằng lời thơ, thì có lẽ muốn diễn tả một bài thơ, người ta chỉ có thể phát động một trận mưa rào hoặc một cơn gió thu, mà muốn thực hiện điều đó, thì ngoài việc làm thơ ra, con người không còn phép gì khác. Thế có nghĩa là muốn bàn tới thơ, diễn dịch thơ, người ta chỉ có thể phải làm một bài thơ khác.
Người xưa am hiểu sự đó, nên họ chỉ vịnh thơ, chớ không bao giờ điên rồ gì mà luận bàn về thơ. Người đời nay trái lại, họ buộc phải luận thơ có mạch lạc, luận lý, không được bốc đồng vịnh lăng nhăng. Cái chỗ ngu si đó là điều bất khả tư nghì vậy.”
Cho nên, ở đây người viết không dám luận bàn về thơ Bùi Giáng mà giản dị chỉ là cảm nhận một phần nào hương vị suối nguồn thi ca lai láng dạt dào, quá sức dữ dội của thi nhân mà thôi.
Vào miền cõi thơ Bùi Giáng là tha hồ tự do lang thang tang bồng, rong rêu phiêu lãng ngàn phương mọi chốn, trên rừng dưới biển đầy kỳ hoa dị thảo, dạo chơi giữa ngã ba, ngã bốn những con đường sương mù, mây trắng rồi bất ngờ mở ra một phương trời xanh biếc Nguyên Xuân, đồng thanh tương ứng, tương giao theo điệu chào sơ ngộ xưa sau :
Hỏi rằng : Người ở quê đâu
Thưa rằng : Tôi ở rất lâu quê nhà
Hỏi rằng : Từ bước chân ra
Vì sao thấy gió dàn xa dặm dài
Thưa rằng : Nói nữa là sai
Mùa xuân đang đợi bước ai đi vào
Hỏi rằng : Đất trích chiêm bao
Sá gì ngẫu nhĩ mà chào đón nhau
Thưa rằng : Ly biệt mai sau
Là trùng ngộ giữa hương màu Nguyên Xuân

Nguyên Xuân là mùa xuân rực rỡ sơ nguyên trong lòng người, là Diệu Tâm trầm ẩn nhiệm mầu của chúng ta. Từ cõi quê lòng thanh tịnh đó, thi sĩ bước ra hòa điệu cùng cát bụi phù hoa phố thị, ngao du ngày tháng ta bà qua biết bao heo hút dặm dài, giáp mặt với sơn cùng thủy tận của mộng đời hư huyễn phù du. Nhà thơ chứng kiến cõi người ta cứ lo tranh đấu, tranh cãi đúng sai, phải trái, hơn thua giành giật nhau mãi, ai ai cũng phát huy cái bản ngã to bự của mình bằng cách chạy theo danh lợi, địa vị, dấy khởi hoài tham lam, sân hận, si mê...  để vô tình quên đi mất cái bản tâm thực tánh, cái mặt mũi xưa nay, cái cõi miền Tâm Xuân thuần nhiên huyền diệu giữa lòng mình, cho nên thi nhân chạnh lòng trắc ẩn, thương xót cho những cảnh đời quá nhiều thống khổ điêu linh, bởi con người cứ mãi đắm chìm trong vọng tưởng, vô minh, hiểu lầm ngộ nhận :
Trần gian thơ mộng xiết bao
Mà buồn vô tận ai nào biết ai
Chưa yêu dấu đã lạc loài
Chát chua ngộ nhận tự ngoài vào trong

Tháng giêng đau khổ mặt trời
Đông sầu lạnh giá đêm dài nửa năm
Về Bắc ngất tạnh mù tăm
Về Nam chỉ thấy thẳm thăm mịt mù

Đau thương từ bấy đến giờ
Ai người đã tỉnh đã mơ một lần
Ấy đau thương ấy tử phần
Không cho phép cánh đại bàng viễn du
Kể từ vô tận mùa thu
Vô biên khốn khổ tội tù một thân
Kể xa xôi kể gũi gần
Không từ đâu có dặm phần chia ly
Ôi từ vô thủy ra đi
Đến vô biên xứ từ quy xa vời
Trần gian đáng lẽ tuyệt vời
Về sau chẳng rõ muôn đời đảo điên
Niềm đau nỗi khổ ưu phiền
Nối đuôi tiếp tới triền miên từng giờ

Khi biết rõ từng giờ từng phút buồn thảm, u sầu cứ triền miên vây khổn chốn phù sinh đầy trầm mê, phiền não, khổ lụy như thế, thi sĩ phát đại bi tâm, nguyện yêu thương hết cả trần gian, yêu muôn loài vạn vật, cả thập loại chúng sinh giữa ba đời sáu cõi luân hồi, qua lại đến đi :
Tôi tự nguyện sẽ một lòng chung thủy
Qua những lần buồn tủi giữa đảo điên
Thân xương máu đã đành là ủy mị
Thì xin em cùng lên thác xuống ghềnh

Em đứng mũi anh chịu sào có vững
Bàn tay bưng đĩa muối có chấm gừng
Tôi đã nguyện yêu trần gian nguyên vẹn
Hết tâm hồn và hết cả da xương

Xin yêu mãi yêu và yêu nhau mãi
Trần gian ôi cánh bướm cánh chuồn chuồn
Con kiến bé cùng hoa hoang cỏ dại
Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn

Còn ở lại một ngày còn yêu mãi
Còn một đêm còn thở dưới trăng sao
Thì cánh mộng còn tung lên không ngại
Níu trời xanh tay vói kiễng chân cao

‘‘Con vi trùng cùng sâu bọ cũng yêu luôn’’huống chi là con người phải không ? Tình yêu tình thương ấy tràn ngập khắp các tác phẩm thơ văn Bùi Giáng, dòng dòng long lanh lấp lánh như  mưa nguồn tuôn đổ, như thác lũ trường giang chảy hoài miên man ngàn trùng đại hải :
Anh đã định chẳng bao giờ sẽ nói
Rằng tình yêu là chóp đỉnh phượng thờ
Vì anh biết gào kêu thân thiết gọi
Khó lọt vào tim máu của em thơ

Anh đã định sẽ yêu đời suốt kiếp
Suốt thiên thu từ vạn thuở phiêu bồng
Rồi anh chợt thấy mình luôn liên tiếp
Nửa điên cuồng nửa rồ dại lông bông

Và từng phút từng giây chồng chất ngất
Một trăm năm đứt ruột nát gan vàng
Một vĩnh viễn đoạn trường chìm ngây ngất
Dưới trầm luân từ thực thể muôn vàn

Từ thực thể muôn vàn trầm luân kiếp nhân sinh đó, cũng như  Nguyễn Du, nhà thơ tự nguyện gánh vác lên vai vô số khổ lụy đoạn trường của Thúy Kiều hay như sư cô Tam Hợp âm thầm nhiếp dẫn từ bi cứu nhân độ thế. Chính vì dâu bể vô thường trong cõi đời máu lệ điêu linh mà Diệu Pháp Liên Hoa Kinh đi về thể hiện tinh thần ‘‘khai thị chúng sinh ngộ nhập Phật tri kiến’’ chỉ ra Phật nhãn, cái thấy biết tuyệt vời tối thượng:
Từ bi ? Vô tận đoạn trường
Đạo cô Tam Hợp ? Hoa Hương Bốn Mùa
Trăm năm dâu bể thiệt thua
Cũng là Diệu Pháp thượng thừa Liên Hoa

Từ cõi Diệu Pháp vô vi bất khả tư nghì ấy bước ra, nên hành động của thi sĩ không giống như cõi hệ lụy ta bà đầy đa đoan chấp ngã của chúng ta, thành thử nhà thơ tự nhận mình là thằng điên, thằng khùng, ngây ngô khờ dại cho khỏe nhẹ để khỏi còn ai thắc mắc phân vân :
Thần Tiên Thánh Phật uy quyền
Giúp đời vô tận thằng điên quý gì ?
Điên từ muôn một liên miên
Mà ra vạn thuở nối liền Liên Hoa
Ấy từ Diệu Pháp mà ra
Đất đồng mộc mạc nở hoa lẫy lừng

Đó là thể điệu cuồng điên uyên mặc thượng thừa của thần tiên du hý, dậy lừng cung bậc Lăng Nghiêm trầm hùng cùng tuyệt :
Tam bành tứ trướng cuồng điên
Thần thông du hý thiên tiên dự phần
Lăng Nghiêm tam muội dậy lừng
Vượt non băng núi qua trùng điệp truông


Ấy từ bất khả nghị bàn
Từ vô tận xứ mà Nghiêm Hoa rằng
Hoặc từ vô tận hằng hằng
Từ đâu tới một Nghiêm Lăng khôn lường ?

Lăng Nghiêm Kinh khai thị cái tâm chơn, tâm vọng của con người vốn bất nhị viên dung. Một khi thấu thị kỳ cùng điều đó, thi sĩ bất thần nhập diệu vào cảnh giới huy hoàng hoan hỷ địa, hồn phách bay bổng một niềm vui sướng lâng lâng :
Thượng thừa thể lệ trăm năm
Thần tiên du hý đánh chìm tài hoa

Cái tài hoa trác việt, độc đáo của mình, đáng lẽ nên tự hào, hãnh diện nhưng thi sĩ tự mình làm cho chìm khuất, tiềm ẩn đi, chứ không huênh hoang phách lối, khoe khoang, kiêu ngạo phô bày ra như kẻ phàm phu tục tử thường tình. Đó là nhân cách cao thượng của bậc đại trượng phu, của những tâm hồn thượng đẳng hoằng đại. Tự mình vượt lên trên vòng đối đãi thị phi phải trái, thoát ra ngoài mọi sinh hoạt quy ước của xã hội, để sống tự do tự tại theo ý mình, thay vì làm một bậc thượng sĩ cao nhân xuất chúng thì ngược lại, thi nhân thực hiện một bước nhảy trọng đại, ngoạn mục phi thường lả tự nguyện làm người điên khùng, khờ dại lãng trí, tự mình trách móc, mắng nhiếc mình theo cách điệu thể thái tùy nghi :
Bỏ đi dẹp mặt mày đi
Làm thằng thi sĩ như mi dơ tuồng
Mi say rượu mi điên cuồng
Mi không ý thức vui buồn thế gian

Lão già say rượu nói nhăng
Làm thơ lẩm cẩm gia tăng tâm tình
Máu tim chia sẻ tâm tình
Nửa dâng Thần Rượu nửa trình Nàng Thơ

Suốt ngày suốt tháng suốt năm
Nó be bét rượu muôn năm đế nồng
Thượng thừa kỳ vĩ vân mông
Sịch mành tỉnh mộng đêm mồng một giêng


Đền bù xiết kể bao lăm
Đáp đền muôn một trăm năm dại khờ
Khờ như dại dại như thơ
Dại không biết thẹn trơ trơ điên cuồng

Nói thì nói khề khà theo kiểu tự chế giễu, bỡn cợt khôi hài như thế, nhưng trái tim thi sĩ luôn luôn rực hồng ngọn lửa tình yêu thương vô lượng vô biên đối với cuộc đời đang sống trong túy sinh mộng tử này. Nhà thơ đau nỗi đau của con người, sầu nỗi sầu thiên cổ của kiếp nhân sinh tàn úa phai nhàu :
Nỗi buồn khôn tả từ đâu
Đi về phảng phất nỗi sầu thiên thu
Giữa đêm chén tạc chén thù
Một mình độc ẩm sương mù dưới trăng
Nỗi thương nỗi nhớ hằng hằng
Nhớ thương vô cớ cầm bằng như không

Ừ thì như không như có, như mộng như thực, như tỉnh như say... hết thảy đều là một chứ chẳng khác gì nhau như Tâm Kinh đã nói “sắc tức thị không, không tức thị sắc” đó mà :
Giật mình tôi chợt nhớ ra
Rằng đây đất của chúng ta chúng người
Mở môi em mỉm miệng cười
Tình yêu từ đó vẹn mười muôn năm

Yêu em yêu mãi tấm lòng
Yêu em quá độ long đong suốt đời
Nhớ em nhớ suốt mây trời
Suốt trăng vĩnh viễn suốt nơi nào là

Tình yêu đó lai láng như trường giang đại hải mênh mông, cứ tự nhiên trôi chảy, thường hướng đến những tầng lớp nghèo khổ trong xã hội như anh đạp xích lô, cô quét rác hay cô mua bán ve chai. Niềm thương cảm của thi sĩ có cái gì đó thật khác thường kỳ lạ :
Kính thưa đồng chí đại ca
Xích lô vô lượng kể đà bao phen
Từng phen lay lất ưu phiền
Niềm vui vô tận thường hằng đeo đai

Các em quét rác mỗi ngày
Mỗi năm mỗi tháng kéo dài muôn năm

Dzeee chai bán ! Bán dzeee chai
Tiếng rao mộng ảo dẻo dai dị thường
Tiếng rao huyền diệu phố phường
Tôi đi khắp chốn tình trường nhớ nhung
Tiếng rao lanh lảnh nghìn trùng
Nghìn nhung nhớ một tao phùng nết na
Người đi tôi ở lại nhà
Chiêm bao mộng tưởng vẫn là dzeee chaiii

Ve chai giày dép cũ càng
Em mua giúp hết dịu dàng em mua
Tơ trời thêu dệt bốn mùa
Đổi thay thời tiết nắng mưa luống từng
Dạn dày cho rõ phong sương
Âm thầm ý nghĩa muôn phương mây vàng

Từ cô thôn nữ ở đồng quê chân lấm tay bùn đến cô em mọi nhỏ ở trên rừng truông rú thẳm hoang lương, thi nhân cũng chia sẻ tỏ bày rất đỗi ân cần trìu mến :
Cày sâu cuốc bẫm cấy bền
Tháng ngày thanh thản êm đềm buồn vui
Thương em ngày tháng ngậm ngùi
Nhớ em ngày tháng sụt sùi giữa đêm

Thương em như thương một nường
Thiên thu là gái bình thường nhà quê
Em từ thôn nữ năm kia
Về đây phút chốc sẻ chia tấm lòng

Kể từ vô tận tiêu tao
Yêu em mọi nhỏ chốn nào đầu non
Thấy em như thấy vuông tròn
Thành thân thiên hạ biển non dịu dàng
Yêu em như nước lan tràn
Nhớ em như nhớ những tràng giang xa

Nguồn thơ xanh ngát lại mênh mang chảy tràn qua cổng chùa tu viện, vào thăm viếng thùy mị ni cô. Trước những vẻ đẹp hiền lành thanh thản đoan trang, chàng thi sĩ lóng cóng theo cách điệu bông đùa cà rỡn quý ni cô thuần hậu, thuần phác thảnh thơi, nhẹ nhõm trong tâm hồn :
Ngoài trời trận gió trở cơn
Rượu trong đáy cốc đầu hôm đi đời
Trở cơn trận gió ngoài trời
Tôn tiền hoàn xướng tuyệt vời ni cô

Than dài trận trận mù sương
Mười ra em mọi một nường ni cô
Gọi tôi bằng bác xô bồ
Bảo tôi đừng gọi ni cô là nuồng

Đi tu em nhớ một lời
Đừng bao giờ trở lại đời làm giai nhân
Đừng đẹp đẽ đến vô ngần
Chỉ cần chút đỉnh đẹp tần ngần tu ( đi )

Còn gì đẹp hơn là buông bỏ hết những phiền não, vọng mê để lên đường xuất gia, đi tu một trận ly kỳ, hy hữu giữa ảo mộng tồn sinh ? "Tu là cội phúc tình là dây oan’’ Nguyễn Du đã nói như thế, còn Bùi Giáng thì :
Tu là cội phúc phôi pha
Tình là oan nghiệt chiết ma đoạn trường

Đó là thứ tình dính mắc ràng buộc, chiếm hữu nên luôn luôn giận hờn ghen ghét, gây nên bao tan nát đoạn trường. Vượt qua thứ tình yêu nô lệ đó là tự do cất bước thong dong với chiếc áo nâu sồng mộc mạc, thoát khỏi mọi nỗi khổ niềm đau :
Nâu sồng đã bén muối dưa
Còn tình đâu nữa dây dưa tâm tình ?
Sự đời tắt lửa tồn sinh
Hồng quần quên mất rằng mình đã quên

Chép tờ địa lý đầy vai
Hùng tâm thánh nữ thiên tài ni cô
Định thần mừng rỡ bước vô
Song trùng chúc phúc hai cô một lần

Ni cô ? Thánh mẫu nhu mì
Thành thân vô tận thuận tùy đầu tiên
Ni cô ? Thục nữ thuyền quyên
Tìm đâu thấy được Nguyên Tuyền Ni Cô ?

Đặc biệt Bùi Giáng dành một tình yêu thương thanh thoát đối với sư cô Trí Hải ở Đại học Vạn Hạnh, người đã dịch Câu chuyện dòng sông của Herman Hesse. Thi sĩ cũng thường gọi sư cô là mẫu thân Phùng Khánh một cách tân kỳ sáng tạo :
Lúc về thờ phượng ni cô
Mẫu thân Phùng Khánh điểm tô đạo trời
Thần lên tiếng thánh đổi lời
Niềm riêng Vạn Hạnh mọc mời cô đơn

Con về giũ áo đười ươi
Nực cười Trí Hải ngậm ngùi mẫu thân
Đẻ con một trận vô ngần
Mẹ còn đẻ nữa một lần nửa thôi
Mẫu thân Phùng Khánh tuyệt vời
Chiều xuân thơ mộng dưới trời bước đi


Kể từ con lạc ra khơi
Mẫu thân Phùng Khánh vội dời chân đi
Một vùng cỏ mọc xanh rì
Hai vùng sóng lục nhu mì mở ra
Con về trong cõi người ta
Nghe tin sét đánh mẹ đà đi tu

U hoài đầu mộng hôm qua
Mẫu thân Phùng Khánh thật là u u
Chân đi từng bước hư phù
Mộng đi từng bước tuyệt trù ống chân
Mẹ về đứng giữa đầu sân
Cuối cùng mẹ bước vô ngần mẹ đi

Mẹ còn nhớ nữa con chăng
Mẫu thân Phùng Khánh con hằng chẳng quên
Tuy đòi phen chết nếp nền
Cung vang lừng bậc điệu đền bù xoang
Mẹ về ngõ vắng vườn hoang
Thừa Thiên sông lạnh kéo sang khu rừng

Mẹ về đẫm lệ trời xa
Gót đi cuối phố mưa sa đầu đường
Ôi Phùng Khánh mộng mười phương
Này mai này mốt mùi hương cuối cùng
Tà xiêm dấu trải mông lung
Một trường mê hoặc đóng khung cung hành
Con về vội vã chép nhanh
Mù sương nhị bội vây quanh thân hình
Nâu sồng kết tụ kệ kinh
Mai vàng trầm thống nín thinh đêm nào

Có người thắc mắc hỏi : ‘‘Cớ sao Phùng Khánh nhỏ tuổi hơn mà đại ca gọi là mẫu thân ?’’ Thi sĩ trả lời : ‘‘Bởi vì Phùng Khánh là mẹ Việt Nam, tôi là con dân Việt Nam thì tất nhiên Phùng Khánh là mẹ của tôi vậy. Nếu tôi không nhận Phùng Khánh là mẹ thì hóa ra tôi là người Lào, người Cao Miên hay con dân Âu Mỹ ư ? Huống nữa Phùng Khánh là bà mẹ loài người, vậy Phùng Khánh là mẹ của tôi rồi. Nếu tôi không phải con của Phùng Khánh thì hóa ra tôi chẳng phải con người mà là con vật hay sao ?’’
Ngoài Phùng Khánh ra, kỳ nữ Kim Cương cũng là một nàng thơ được thi sĩ đem lòng chiếu cố quý mến vô lường :
Kính thưa công chúa Kim Cương
Trẫm từ vô tận ven đường ngồi đây
Tờ thư rất mực mỏng dày
Làm sao định nghĩa đêm ngày yêu nhau ?

Em vui nước ngọt tuôn dòng
Em buồn toàn diện đèo bòng buồn theo
Em vui tinh thể bọt bèo
Em buồn toàn diện thu vèo sang đông
Ngổn ngang gò đống chất chồng
Em về vĩnh viễn đêm mồng một giêng
Em đi thanh thản ngọc tuyền
Anh ngồi nốc rượu nốc phiền thiên thu
Kim Cương nương tử tuyệt trù
Thơ thần chất vấn dặm cù tình điên

Với một suối nguồn thương yêu vô điều kiện, yêu thương vô phân biệt, nhà thơ  cũng rộn ràng trang trải cùng các cô gái đứng đường, xem các cô kỹ nữ như là tiên nương, thánh nữ giáng trần và tâm sự cùng các cô chan chứa nỗi niềm :
Bất ngờ tôi bắt gặp em
Vu vơ đi đứng một đêm giữa đường
Đến gần bất chợt tình thương
Bất ngờ tâm sự phi thường gần xa
Em từ viễn ngạn tuôn ra
Mười hằng hồng lệ chín sa dòng dòng
Tôi từ lịch kiếp long đong
Em từ lận đận tấm lòng bao lâu
Chúng ta từ cõi lao đao
Quen nhau từ những kiếp nào xưa xa


Tâm hồn của gái giang hồ
Các em vô tận kể từ đâu ra ?
Anh nay tuổi quá cỡ già
Thương em như nhớ gian nhà lưu ly
Các em dù tuổi tên gì
Cũng từng đã thốt lời gì anh nghe
Ngày nay đứng phố ngồi hè
Nhớ em mộng tưởng muôn bề rã tan
Cậy em lời cậy muôn vàn
Mình em riêng một đá vàng thiên thu

Tình yêu vô tận tự lòng
Tình không yêu cũng tùy tòng vô biên
Lỡ làng chút phận thuyền quyên
Chưa là thánh nữ cũng tiên nương rồi

Chỉ có cái nhìn vô phân biệt trí mới thấy được như thế. Dễ có mấy ai trên đời này xem các kỹ nữ lầu xanh là tiên nương thánh nữ ? Chỉ duy nhất thi sĩ Bùi Giáng mới có cái nhãn quan đại từ đại bi, đại hỷ đại xả như thế và từ cái nhìn thấu thị nhân sinh đó, thi sĩ ngợi ca, tán thán hết lời và gọi chung tất cả thục nữ mười phương là nàng thơ, nàng tiên diễm tuyệt vô ngần. Các nàng thơ, tiên nữ cứ đi về kề cận gần gũi, thân thiết miên man, bàng bạc ở khắp mọi nơi khắp chốn, từ phồn hoa đô hội đến lâm tuyền huyễn ngạn, ngoài bến gió bờ sương ngút ngàn quyến rũ mộng mị chiêm bao, dạt dào xao xuyến, xiết bao tâm tình du dương tha thiết :
Các em vô tận thuyền quyên
Từ thiên cổ tới đầu tiên bây giờ
Các em không thể nào ngờ
Rằng đầu tiên đã bài thơ luống từng

Em từ trái đất tuôn ra
Em đi xinh đẹp tiên nga dậy thì
Gặp em toàn thể nhu mì
Non sông đất nước thuộc tùy tình em

Thương em hơn cả phượng thờ
Ông trời ông Phật mút mùa thần tiên
Yêu em từ cái diện tiền
Của em số dzách thuyền quyên ấy là
Em từ một thuở tuôn ra
Một hơi hô hấp thiết tha dịu dàng
Từ đầu truông tới cuối ngàn
Cỏ cây nhớ mãi muôn vàn tình yêu
Thương em mỗi lúc mỗi nhiều
Yêu em mỗi lúc mỗi trìu mến em
Đường đi lát đá êm đềm
Cậy em thủng thẳng dịu mềm em đi
Mai sau còn một tí gì
Ấy là khu vực nhu mì của em
Cái gì vô tận của em
Ấy là cái ấy của em lạ lùng
Dị thường vô tận hoành tung
Tình yêu tim máu thủy chung tót vời
Anh từ vô tận viễn khơi
Gặp em như gặp đất trời vô biên

Chợt nhìn ta thấy em xinh
Buột mồm ta viết bình minh đờn bà
Bài thơ từ đó tuôn ra
Khôn lường vô tận ấy là em ôi

Riêng em có lẽ thật là
Thiên thu một thuở muôn nhà một nơi
Cùng em vô tận rong chơi
Khắp trùng dương dội sóng đời đời dâng

Ngân nga vang vọng sóng đời từ cuộc lữ đến cuộc chơi, từ cuộc tình đến cuộc mộng rồi từ cuộc mộng đến cuộc thơ, mở ra tưng bừng những làn gió hương màu phất phới, những phảng phất rung động trầm sâu mầu nhiệm bồi hồi :
Lối đi bình lặng nhiệm mầu
Lối về phấp phới hương màu đầu tiên
Lối đi nhìn ngửa ngó nghiêng
Lối về phảng phất nợ duyên khôn bì

Chập chùng những cuộc đi cuộc về trên con đường mây trắng phiêu du, lãng đãng phiêu bồng. Không từ đâu đến cũng chẳng đi về đâu nên thi nhân dấn mình nhập cuộc vào tồn lưu trôi chảy và đột ngột, thốt nhiên bỗng thấy trần gian đẹp đẽ vô cùng. Đẹp kinh hồn đến độ choáng váng mặt mày, ngập tràn cơn say chuếnh choáng, ngây ngất yêu đời vô tận nên nghêu ngao dạo khúc hát xênh xang.
Trạng thái xuất thần nhập diệu ấy càng ngày càng đến thường xuyên hơn trong cuộc sống thường nhật, nên thi sĩ phiêu hốt, phiêu diêu trong cảnh giới tiêu dao vô ngại đó nhiều đến nỗi phải khiêu vũ nhảy múa như một hoàng đế tự vất bỏ ngai vàng điện ngọc, đi vi hành làm kẻ vô danh tiểu tốt, tha hồ đùa chơi tiếu ngạo, ngâm nga la hét giữa phố thị ồn ào, tấp nập người qua kẻ lại, khiến thiên hạ cứ tưởng là nhà thơ điên. Kỳ thực đó là những phút giây bay bổng, khinh an, hoan lạc, nhập vào hoan hỷ địa xuất cốt diệu thường, cực lạc vô song :
Ông vua kỳ vĩ thập thành
Vì vui quá độ nên thành ra điên
Bây giờ tôi dại tôi điên
Chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian

Chao ơi ! Thái độ ‘‘Chắp tay quỳ lạy khắp miền nhân gian’’ đó, chẳng khác chi hạnh nguyện của  Bồ tát Thường Bất Khinh, luôn luôn kính trọng hết thảy mọi người dù ngu trí, lớn nhỏ, giàu nghèo một cách trân quý lạ thường. Dường như nhờ đọc sách, kinh điển Phật giáo Đại thừa mà thi nhân bất ngờ trực ngộ, thấy ra tận tường cái bản tâm thanh tịnh chói sáng vạn hữu an lành :
Thượng thừa hồi phục tâm thanh
Thốt nhiên đốn ngộ ngọn ngành cảo thơm

Bước vào nào thấy chút chi
Bước ra bỗng thấy cái mì nhu em
Toàn nhiên đại ngộ hoát nhiên
Hoát nhiên đốn ngộ thần tiên thượng thừa

Giữa đỉnh cao và hố thẳm, giữa vô hình và hữu hình, giữa phù du và vĩnh cửu với điệu cười sinh tử như không, thi sĩ thấy ra cảnh giới Hoa Nghiêm trùng trùng duyên khởi nên hòa chung cung bậc đất trời rộng mở, thở cùng không khí phóng khoáng, hý lộng giữa đôi bờ mộng thực, tỉnh điên một cách khoan thai thoải mái :
Cái điên cái tỉnh ở đời
Nào ai dám chắc thế thời ra sao ?
Kéo dài rất mực chiêm bao
Cuộc chơi kỳ vĩ tiêu tao điên cuồng

Cuồng điên là gì, thế nào là điên cuồng ? Vì sao các thiên tài trên thế giới thường hay bị điên ? Có lẽ điên là một cảnh giới dị thường mà người tỉnh táo không bao giờ hiểu được như có lần thi sĩ tự lý giải lai rai : ‘‘Nó điên ? Vâng, nhưng điên một cách dzui dzẻ, bạ đâu gọi đó là mẫu thân bát ngát của con. Người ta bảo rằng nó không điên, có kẻ nói rằng nó giả vờ điên. Muốn biết nó điên hay không điên hoặc giả vờ điên thì trước hết phải đáp vào câu hỏi : Sao gọi là điên ? Nhưng mà, nhưng mà đó là một câu hỏi chưa hề có lời giải đáp dưới gầm trời suốt xưa nay vậy.’’
Vậy thì coi như bất khả tư nghì, không thể nghĩ bàn chi được nữa cả, chúng ta cứ tiếp tục đọc thơ chơi, phiêu hốt theo ngôn ngữ thượng thừa :
Nỗi buồn nỗi khổ đời xưa
Nỗi sung sướng đến móc mưa bất ngờ
Đời nay đất đá cằn khô
Đời xưa đất đá đều đờ đẫn điên
Điên duỗi dọc điên ngửa nghiêng
Điên là hạnh phúc thần tiên ở đời

Cuộc chơi kỳ vĩ thập thành
Các em kỳ bí hơn anh quá nhiều
Tử sinh giữa cuộc dấn liều
Tử sinh liều giữa diễm kiều cuộc chơi

Chuyện sinh tử đối với phần đông phàm phu tục tử chúng ta là rất đỗi trầm trọng, kinh hoàng khủng khiếp, nhưng với thi sĩ thì thấy nhẹ như lông hồng, cho nên cứ tiếp tục cuộc rỡn đùa chơi, vì đã thấu triệt được lẽ bất sinh bất diệt, chết rồi cũng chẳng mất đi đâu mà chuyển qua hình thức khác, chuyển biến theo luân hồi giữa ba đời sáu cõi, tái sinh theo nghiệp báo của riêng mình đấy thôi :
Em về choáng váng tê mê
Em về từ tử diệt về tái sinh ?
Em về vô tận bình minh
Từ em tử diệt tái sinh mừng chào

Chào mừng cuộc sống vô lượng vô biên giữa biển đời trùng trùng sóng phong quang Bát Nhã, sóng lai láng tràn vào từng trang cổ lục cảo thơm, giúp cho người ta thấy lại vẽ đẹp huy hoàng tráng lệ của trí tuệ muôn đời tung bay phất phới :
Thình lình vô tận biển khơi
Sóng triều Bát Nhã đẩy chơi vào bờ
Thượng thừa trí tuệ thẩn thơ
Chép tờ cổ lục cho tờ cảo thơm

Trí tuệ Bát Nhã ấy chẳng ở đâu xa mà nó ở ngay giữa tâm hồn chúng ta đây thôi. Em hãy quay nhìn lại chính mình thì sẽ thấy ngay lập tức cái lòng trong trẻo nguyên sơ hiển hiện ra khắp muôn chiều diệu dụng :
Em đi vô tận trùng trùng
Em về vô lượng tự lòng mà ra

Đại thi hào Nguyễn Du cũng đã từng nói ‘‘Cỗi nguồn cũng ở lòng người mà ra’’ giống như Hoa Nghiêm Kinh ‘‘Tất cả do tâm tạo.’’ Thì ra, cả sơn hà đại điạ, cả ba nghìn thế giới này cũng đều do tâm mình tạo ra mà thôi. Người thi sĩ hốt nhiên ‘‘ồ lên một tiếng’’ và mỉm cười rỗng rang sảng khoái :
Cõi bờ con mắt Hoa Nghiêm
Tường vôi lá cỏ lim dim vô cùng

Cảnh giới Hoa Nghiêm đang thị hiện diễn bày chung quanh khắp mặt đất trần gian cát bụi, từ vô lượng kiếp đến một phút giây của từng sát na vĩnh cửu. Một hôm lang thang lêu lổng, bỗng thi sĩ kỳ ngộ trùng phùng đức Thế Tôn bên vỉa hè phố chợ,  khiến chàng rúng động cả thần hồn, vội quỳ xuống đảnh lễ thành tâm :
Thập thành đảnh lễ bước chân
Như Lai hộ niệm phù vân điệu chào
Quan Âm Bồ tát chốn nào
Cũng cho nghĩ nghị lối vào Trung Niên
Ôi Bồ tát hỡi Nhu Lai
Lời thơ đảnh lễ lai rai vài hàng
Ngàn thu rớt hột xuống trang
Lá hoa cồn dậy muôn vàn bữa qua

Trung Niên thi sĩ bàng hoàng, choáng ngợp trước ánh hào quang tuệ giác siêu việt, trực kiến vô ngần Chân Không Diệu Hữu, không biết nói gì hơn là làm thơ tán thán ca hát chan hòa :
Ca về tuế nguyệt thiên thâu
Về ca khoảnh khắc sơ đầu sát na
Chân Không Diệu Hữu là ca
Không chân hữu diệu lưu sa hằng hằng
Đứng đi ngồi ngả ba đàng
Thượng thừa cung bậc muộn màng cứ ca

Chân Không mà Diệu Hữu nên mới có chuyện nói đi nói lại, nói mãi suốt từ thiên cổ xưa nay. Nói từ ngày Đức Phật chứng đạo dưới gốc cây Bồ đề đến bây giờ cũng bấy nhiêu chuyện mà thiên kinh vạn quyển, trùng trùng vô tận vẫn nói không hết lời. Cho nên thi nhân cũng hòa theo chiếu cố, ngưỡng mộ trước phong cách trầm hùng bất động vô nhiễm của Như Lai :
Phật ngồi dưới gốc Bồ đề
Tiên nương dừng bước tóc thề chấm vai
Thưa rằng Phật thật là tài
Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong

“Thấy mà như chẳng từ ngoài vào trong.”Chỉ cần một câu thơ đó thôi, Bùi Giáng đã lột tả hết được tinh túy của đạo lý Đông Phương suốt từ mấy ngàn năm rồi, Khổng Tử, Long Thọ hay Cưu Ma La Thập thì cũng muốn nói quanh nói quẩn cái vô sở trụ, vô sở chấp ấy mà thôi :
Lời thô tục ? Ý u tồn ?
Ý nào u tục thô ngôn là lời ?
Giả danh chân đế cũng rồi
Giả danh tục đế đún đẩy lời cũng qua ?
Trăm năm trong cõi người ta
Lọ là Long Thọ lọ là Khổng Khâu ?
Vàng beo lục gấu trắng trâu
Đìu hiu trăng mọc nhịp cầu phù du

Bão giông hằng thể bi thanh
Liên Hoa Diệu Pháp lịch hành Thệ Đa
Thập thành sử hiện ra hoa
Thập Ma La Thập lời Hoa Nghiêm rằng

Rằng thì là...như thế. Như thế là như thế nào ? Chúng ta hãy nghe Bùi Giáng khề khà đối thoại thong dong :
 “- Đọc thơ văn mày viết ra, tao thấy rằng thỉnh thoảng mày nói lên đúng cái tư tưởng ẩn mật trong kinh Hoa Nghiêm, mặc dù mày viết theo cái điệu riêng biệt của mày. Thế nên tao càng ngạc nhiên thấy rằng thường thường mày cứ luẩn quẩn đọc những sách nhảm nhí lăng nhăng. Tao muốn hỏi mày tại sao mà như thế ? Mày quên mất cõi tư tưởng lớn hay sao ?
- Tao cũng chẳng rõ tại sao, nhưng mày thử giải nghĩa tao nghe thế nào là cõi tư tưởng lớn. Lớn là lớn bằng mặt trời hay mặt trăng hoặc to bự như vũ trụ ?
- Cứ tạm cho là to bự như vũ trụ.
- Thế thì tao thử hỏi lại mày : Có khi nào mày nhìn thấy vũ trụ to bự nằm ở ngay trong một giọt sương ?
- Có
- Trong một lá cỏ ?
- Có
- Trong một lổ chân lông ?
- Có
- Thế thì bây giờ mày đã nhận thấy rằng câu hỏi của mày nêu ra ở trên kia đích thực là lệch lạc ?
- Có lẽ ”
Thế đó, cảnh giới Hoa Nghiêm là vậy, thấy tất cả vũ trụ mười phương, muôn loài vạn vật, thánh phàm, thế gian và xuất thế gian đều nằm gọn trong tâm của chúng ta đây mà thôi. Tâm như hư không, vốn là rỗng lặng thanh tịnh, chẳng có hình dáng, không sinh không diệt, nhưng vô cùng diệu dụng rất sinh động, tuy bất biến mà tùy duyên. Cái tâm sinh động ấy ứng vào lòng thi sĩ Bùi Giáng nên hồn thơ xuất thần bay bổng lồng lộng giữa trời đất phong quang bát ngát mông mênh. Bên ngoài thì nhảy múa hát ca nhưng bên trong vẫn tịch nhiên niệm Phật như thường :
Huyền hoa đứng ở giữa đường
Người đi rốt cuộc phi thường vẫn đi
Nam mô Đà Phật A Di
Lan mùa nam diện lai quy phục hồi

Con đường hân hoan sáng tạo bước đi đã quá đổi dập dìu, phiêu lãng hoan say, khiến cho thánh thần cũng lắc đầu chịu thua, chỉ có những bậc Bồ tát mới độ lượng mỉm cười tương ứng cùng thi sĩ sâu xa :
Bây giờ huyền diệu sát na
Bước về gọi mộng sơn hà Trung Niên
Là thằng thi sĩ diện tiền
Làm thơ lố bịch thánh hiền chịu thua
Chỉ duy Bồ tát vui đùa
Niêm hoa vi tiếu là vừa lòng thôi

Bồ tát là người có tâm hồn rộng mở, bao dung, chấp nhận tất cả thuận nghịch tỉnh táo hay điên rồ của thế gian, luôn ban vui cứu khổ cho con người, như Tuệ Sỹ phát biểu : ‘‘Không tận hữu vi, Bồ tát chấp nhận sự tồn tại của dị biệt giữa các loại chúng sinh mà kiến thiết quốc độ thanh tịnh. Không trụ vô vi, Bồ tát nhận thức tính bình đẳng như hư không trong tất cả các loại chúng sinh, nên mọi giá trị cá biệt đều được kính trong  như là giá trị phổ quát. Không tận hữu vi, nên Bồ tát xây dựng quốc độ thanh tịnh không bằng hận thù tranh chấp. Không trụ vô vi, nên Bồ tát xây dựng quốc độ thanh tịnh bằng tình yêu và sự kính trọng giữa các loại chúng sinh.’’***  Thế là, người thi sĩ tuy điên cuồng nhưng vẫn được các vị Bồ tát chiếu cố, vì thế cứ tha hồ rong chơi, tiếu ngạo giang hồ và chuếnh choáng làm thơ tình yêu, ca ngợi tình thương vô lượng như muốn nhắn gởi điều chi bí mật cho người em chí cốt diệu thường :
Gởi em chút đỉnh mùi hương
Tình yêu xa vắng như dường như không
Gởi em mật pháp phiêu bồng
Ngàn trăng ngậm bóng sương đồng quy lai

Sau bao nhiêu trận trận tang bồng, phiêu dật, nhà thơ đã truyền âm nhập mật pháp môn gì đó ? Chỉ có nàng thơ mới có thể nghe và hiểu ra mật pháp đó mà thôi. Chúng ta đừng có tò mò mà luận bàn đủ thứ. Thi sĩ hẹn hò nàng thơ cùng gặp nhau ở phương trời cố quận cuối nẻo nào heo hút tận chân mây :
Mây theo gió thổi về mau
Bây giờ tiễn biệt mai sau trùng phùng
Cùng em cố quận sẽ cùng
Xiết bao tâm sự điệp trùng tái sinh

Bởi vì cũng từ nàng thơ huyền mộng, từ ngày em xuất hiện trên mặt đất sa mạc hoang vu này đã khiến cho thi sĩ bừng ngộ ra một điều chi kỳ bí lặng im :
Em từ thiếu nữ bước ra
Thành thân thục nữ tên là thuyền quyên
Mang thêm mỹ nữ chênh vênh
Em làm đắm đuối dưới trên bao người
Mỹ nhân cách điệu tuyệt vời
Giai nhân từ đó cũng vời tuyệt hơn

Em muôn vạn xứ êm đềm
Cho em rất mực muôn nghìn mà ra
Anh từ đó ngộ thiết tha
Em là vô tận em là em ơi !

Nàng thơ thỏ thẻ hỏi chàng thi sĩ đã ngộ điều chi ly kỳ gay cấn như rứa thì chàng nhẹ lắc đầu chỉ đáp :
Anh chỉ biết mỗi một điều là như thế
Như thế nào anh nói rõ em nghe ?
Là thế đó muôn đời là như thế
Nói làm gì em nghe nữa làm chi !

Phải chăng đó là thể lệ vô ngôn, vì ngôn từ bất lực không thể diễn tả được cái trực ngộ kia ? Thôi đành lặng lẽ lắng nghe điều huyền diệu đang dần dần lan tỏa quanh gót ngọc em về dưới nắng sớm chiều mưa :
Em đi bất chợt thượng thừa
Thoảng trong phút chốc còn lưa muôn đời
Em từ viễn tượng xa xôi
Về từ thiên thượng tuyệt vời tố nga
Tình yêu có lẽ chăng là
Tình thương vô tận tặng quà vô tâm

Té ra là như rứa, tất cả muôn sự muôn việc triền miên xảy ra từ xưa đến nay cũng chỉ là vô tâm, vô niệm như không, chẳng là gì gì hết cả :
Như không là ấy ruột rà
Như không vô tận từ ta tặng người

Tặng người em gái quê, gái phố, gái núi, gái rừng, gái biển, gái thuyền quyên thục nữ mười phương một bài thơ tình thương yêu bất tuyệt vĩnh hằng :
Tặng em thể điệu toàn thân
Kết chùm nguyệt rộng đôi vần thi ca
Tặng em thỉnh thoảng mà ra
Thiên thu tặng vật đóa hoa tình đầu


Chiều nay bỗng thấy tình thương
Chảy tràn ngập khắp du dương cõi bờ
Chân tình anh hỏi nàng thơ
Chẳng thà như rứa chớ bơ vơ - ồ !

Hình thành tinh thể bài thơ
Vô cùng kiều diễm một giờ mà ra
Muôn trùng vĩnh biệt thiết tha
Một giờ như thể muôn hoa một mùa

Một mùa chi mà lạ rứa ? Thưa rằng không biết nữa. Chỉ hay rằng, đặc biệt, nhà thơ Bùi Giáng có một niềm tương ứng đậm đà, thâm sâu đến độ tâm đắc cùng lục bát Nguyễn Du qua tác phẩm Truyện Kiều. Hình ảnh thi hào Tố Như luôn luôn xuất hiện, đi về trên khắp hàng ngàn trang thơ văn dặt dìu lãng đãng :
Sáng nay chim hót thật nhiều
Tưởng nghìn tiếng nói tình yêu đất trời
Chiều nay có lẽ lá rơi
Mưa rừng đổ xuống khắp nơi ào ào
Mai kia sẽ nhớ ngày nào
Ngày nay ấy mộng rì rào máu tim
Thượng thừa tiếng hót của chim
Của gà gáy sáng từ khuya tới giờ
Làm đi làm lại bài thơ

Kể từ tao ngộ bất ngờ Nguyễn Du

Tôi từ muôn kiếp phôi pha
Gặp em ngàn thuở mà ra một thời
Một lần vô hạn em ơi
Gặp từ vô tận đất trời Nguyễn Du

Chào em thiên nữ vong hồn
Thiên thu đã tới mang dồn dập hoa
Tán hoa thiên nữ ấy là

Thúy Kiều vô tận tên là Nguyễn Du

Thúy Kiều một thuở mà ra
Muôn thu vạn thuở nõn nà hiện thân
Kiều ôi có lẽ một lần

Hồng Sơn thiên lý tử phần tái sinh

Một vùng cỏ mọc nước ngâm
Nghìn năm nhớ mãi cung cầm Nguyễn Du
Các con không gặp Nguyễn Du
Chính ông cũng chẳng gặp Du bao giờ
Nhưng bài thơ ấy còn trơ
Bên nguồn vĩnh phúc bất ngờ tỏa ra
Những là ánh sáng chói lòa
Việt Nam văn hiến băng qua dặm nghìn

Đã hơn bốn nghìn năm văn hiến trôi qua, thi sĩ đi về cố xứ và âm thầm nhập diệu vào cõi miền vĩnh cửu uyên tư :
Về bên cố quận tuyệt trù
Vượt biên giới nhập thiên thu vô lường

Thiên thu vĩnh cửu nằm ngay trong giây phút bây giờ và ở đây. Không còn biên giới phân biệt nhị nguyên đúng sai, phải trái, hết rồi những có không, mộng thực giữa chốn tồn sinh. Người thi sĩ hồn nhiên như trẻ thơ, thở nhẹ nhàng từng điệu thở hài nhi nhẹ vời với tiếng cười nhẹ nhõm reo vui :
Chưa biết nói đã biết cười
Cười như thượng thặng vẹn mười Như Lai
Hồn như Di Lặc dẻo dai
Cười không biết chán chường ai ai người
Quả nhiên nó đúng là người
Mà sao nó khác hẳn người chúng ta
Quả nhiên nó rất là già
Mà sao nó bảo nó là trẻ thơ
Trẻ thơ nào có bao giờ
Biết làm thơ để phượng thờ tình yêu ?

Bùi Giáng là thế, vẫn tà tà cách điệu tiếu lâm, riễu cợt hài hước cho “vui thôi mà” chớ có chi đâu mà trầm trọng, nặng nề phê phán đúng sai, trúng trật, dở hay phải không ? Thì ra là vậy, trên con đường miên man sáng tạo, trên ngõ về vô sở trú phong quang, thi sĩ thung dung trỗi nhịp cung đàn hoan ca, hòa âm cùng cung bậc Bất nhị như thị như nhiên. Với tinh thần vô sở cầu, vô sở chấp, vô sở đắc, lặng lẽ buông bỏ, cho và cho hết những gì mà thiên hạ đang đấu tranh, giành giật chiếm hữu lẫn nhau, thi nhân tự nguyện sống nghèo nàn hàn sĩ, làm kẻ ăn mày, một tên cuồng sĩ lang thang suốt đời hát bản độc hành ca qua ngày tháng ngao du làm rớt hột phiêu bồng giữa mênh mông thông lộ vô cùng bất tận,  ngờm ngợp gió ngàn trăng.
Văn hào Mỹ vĩ đại Henry Miller nói : “Từ chút ít sách vở tôi đã đọc, tôi nghiệm ra rằng, những người lặn lội sâu nhất trong cuộc đời, những người nhồi nặn cuộc đời, những người chính là cuộc đời đều ăn ít, ngủ ít, sở hữu ít hay không có gì cả. Họ không có bất kỳ một ảo tưởng nào về bổn phận, hoặc nối dõi tông đường hay duy trì quốc gia. Họ chỉ quan tâm tới chân lý và chân lý mà thôi. Họ chỉ chấp nhận một hình thức hoạt động là sáng tạo. Không một người nào có thể chỉ huy công việc họ, bởi vì họ tự nguyện cho tất cả. Họ cho không, bởi vì đó là cách duy nhất để cho.”****
Nhận định trên của Henry Miller rất đúng với trường hợp Bùi Giáng biết bao. Một thi nhân đã tận hiến cho cuộc sống bằng tất cả tinh thành chân thiết nhất, bằng con đường nghệ thuật thi ca.
Nhà thơ Bùi Giáng đã sống trọn vẹn một cuộc đời hạnh phúc viên mãn theo ý nghĩa đạo Phật. Suốt bình sinh cuộc sống, thi sĩ là hình ảnh quá cùng đẹp trong cái nhìn của thiên hạ mọi người, nhất là giới tăng sĩ Phật giáo và giới văn nghệ sĩ, ai ai cũng nhìn ông với niềm ưu ái, quý mến đầy ngưỡng mộ. Ngưỡng mộ sự tự do tự tại, thung dung thoát tục, không dính bụi trần mà “hòa cùng ánh sáng, trộn cùng cát bụi” của thi nhân. Bồng tênh tiêu sái, rong chơi suốt một đời thơ giữa phố thị phù hoa như một hài nhi tóc bạc thơ ngây, nhảy múa hồn nhiên hát ca vi vu vi vút.
Cuộc đời Bùi Giáng vô cùng thi vị, một cuộc đời hoàn toàn sống vì nghệ thuật, dâng hiến tất cả cho nghệ thuật thuần túy, chỉ biết sống hết mình cho thi ca và đệ nhất hy hữu nàng thơ tuyệt cùng chơn mỹ :
Em đi hồn nhớ nhung gì
Anh ngồi nhớ cái nhu mì lẻ loi
Trời cho rất mực rạch ròi
Vào trong thục nữ ra ngoài thuyền quyên
Của em toàn thể uy quyền
Của em toàn diện thần tiên dịu dàng

Tư tưởng trong thơ Bùi Giáng mang một ý nghĩa bùng vỡ khai phóng, đầy ắp hào quang sáng tạo. Tư tưởng nhập cuộc chịu chơi vào cõi tồn lưu mà vẫn thanh thản thong dong, không dính mắc, không ràng buộc, không chấp chặt của thi nhân thật chẳng khác gì thái độ vô tâm, vô niệm, vô sự của những bậc thiền sư. Nhà thơ thõng tay vào chợ, tung hoành ngang dọc, nhảy múa quay cuồng đủ thể điệu quàng xiên mà vẫn sáng suốt thông tuệ như như.
Tư tưởng phá chấp triệt để của Thiền tông được thi nhân thể hiện suốt bình sinh cuộc sống bằng chính bản thân mình, như ngụ ngầm khai thị một điều gì vi diệu mà mỗi một người trong chúng ta phải tự lãnh hội, tự thấu hiểu ra mà thôi.
Sở dĩ con người đau khổ là vì cố chấp, chấp ngã, chấp pháp, chấp đủ thử lu bù nên cứ mãi khổ đau trầm thống triền miên. Muốn thoát khỏi vòng trầm luân khổ não đó, chỉ còn một cách là hãy trở về lại chính mình, nhận biết cái bản tâm nguyên sơ, sống với thực tại đang là ngay trong từng hơi thở luôn luôn mới lạ và mới lạ.
Tiến sĩ Nguyễn Tường Bách nhận xét về thi sĩ : “Bùi Giáng cũng như một người điên, cỡ Tế Điên. Cũng như Tế Điên, hình như ông đến cõi đời này để dạo chơi, để đùa rỡn và cũng để giáo hóa cho con người thấy tất cả đều chỉ là trò ảo giác của sắc thân, của chữ nghĩa, của tư tưởng, chúng đều là chuyện đáng để đùa rỡn.”***** Rỡn đùa điên khùng chơi theo thể điệu Tiếu ngạo giang hồ Kim Dung tung chưởng vô chiêu, hay khùng điên nhảy múa ca hát, tràn đầy yêu thương tuyệt mỹ như nghệ sĩ Nijinsky : “Tôi là Thượng đế trong con người. Tôi cảm những gì Christ đã cảm. Tôi giống như đức Phật, tôi là đức Như Lai Phật giáo và là tất cả mọi Thượng đế thiên hình vạn trạng. Tôi quen biết tất cả những vị đó và đã gặp gỡ tất cả những vị đó. Tôi giả vờ làm thằng điên một cách cố ý  vì những mục đích riêng tư của tôi. Tôi biết rằng, nếu mọi người nghĩ rằng tôi là một thằng điên vô tội thì họ sẽ không sợ tôi. Tôi không thích thiên hạ nghĩ rằng tôi là một thằng điên nguy hiểm. Tôi là một thằng điên yêu thương nhân loại. Cơn bệnh điên của tôi là tình thương của tôi đối với nhân loại.”**
Thật vậy, quả nhiên đúng là như thế, phải không hỡi đại thi sĩ Bùi Giáng ? Cơn bệnh điên của thi sĩ là vì quá thương yêu nhân loại đó thôi. Yêu thương quá độ mà thành ra điên, mà bày ra đủ trò khiêu vũ ngôn ngữ, hý lộng ngữ ngôn một cách thượng thừa như đùa như rỡn trào tuôn. Ừ thì như thị, như thế, như thế, cứ mở ra những cuộc rỡn đùa chơi hay đại hòa điệu chơi giữa cõi người ta, vì tất cả mọi sự trên thế gian này đều chỉ là trò chơi, trò đùa huyễn mộng. Sống là chơi, chết là chơi, điên rồ là chơi, tỉnh táo là chơi, uống rượu khề khà là chơi, mê gái là chơi, làm thơ làm thẩn là chơi, làm văn nghệ là chơi, làm cuồng sĩ túy lúy ca là chơi, làm thiền sư tự do tự tại là chơi, làm bất cứ việc gì cũng là trò chơi, trò đùa du hý tam muội mà thôi :
Mỗi người có một cách chơi
Em vui với gió tôi ngồi nhìn trăng
Em đi năm tháng thường hằng
Tôi nằm nhớ mãi hàm răng em cười

Mở tờ giấy mới ra chơi
Hình như giấy cũng vui cười với em
Bài thơ do đó lem nhem
Lúc vui lúc khổ như em đó mà
Còn tôi vui khổ thật là
Đảo điên rất mực tiên nga giật mình
Trăm năm khó đổi tính tình
Cũng không có thể làm thinh muôn đời
Thôi thì cứ nói cho vui
Nghìn năm chỉ có một đời muôn năm

Làm sao quên được giọng cười ‘‘vui thôi mà’’ của thi nhân ? Giọng cười ấy vẫn còn đồng vọng khắp nơi trên mặt đất. Bất cứ ở đâu, nếu ai còn cảm được thi ca và phiêu lãng đều nói về Bùi Giáng với niềm rỡn tếu, bông đùa một cách vui vẻ thân mật, gần gũi như là anh em chí cốt ruột rà vậy. Đa số mọi người đều thấy đấy là một Bồ tát nghệ sĩ đi về mặt đất trần gian chuyển hóa con người ta nên buông xả cái tâm chấp thủ, dính mắc vào danh lợi, để sống thanh thản an nhiên với niềm tự do tự tại vô ngại. Bồ tát nghệ sĩ là người không những tự giải thoát chính mình ra khỏi mọi mắc dính buộc ràng mà còn khôn khéo tìm cách khơi mở tuệ giác nơi những kẻ khác bằng phương tiện nghệ thuật, ngay giữa bây giờ và chính ở đây thôi.
Ngày tháng vẫn luân lưu trôi chảy mãi, nói về Bùi Giáng thì bất tuyệt và giọng cười vô sự cũng mở ra bất tuyệt như Ma Ha Ca Diếp niêm hoa vi tiếu trên đỉnh Linh Sơn rờn mây trắng từ nghìn xưa cho mãi đến bây giờ :
Niêm hoa vi tiếu luống từng
Xuân phong bài động thơ mừng vụt dâng

Người thi sĩ thượng thừa đã về đã tới nơi chốn quê nhà, đã qui hồi cố quận, nằm ngắm trăng đón gió cùng mây về hòa điệu khúc cung cầm vô thủy vô chung :
Tâm tình mấy nẻo mông lung
Ta nằm cố quận muôn trùng người đi

Kỳ tuyệt cõi thi ca Bùi Giáng, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng sự sự vô ngại, lý sự viên dung của pháp giới Hoa Nghiêm. Tư tưởng đó được thi sĩ tiêu dung, tiêu hóa và sáng tạo thành một nguồn thơ độc đáo vô song. Hồn thơ như ngọn lửa thiêng ngời tỏa ánh hào quang, cháy bừng lên rực rỡ huy hoàng làm ấm áp khắp mặt đất trần gian, chan chứa nồng nàn trong cõi người ta tha thiết thiên thu.
Giữa thiên thu vạn đại, ngưới viết xin kính tặng thi sĩ vài bài thơ để nhớ mãi những ngày tháng ở phố thị Sài Gòn cùng thi sĩ ngao du đủ thể điệu phiêu bồng :

SAY THƠ

Nhập cuộc chơi sớm chiều lêu lổng
Không dừng chân trú lại nơi đâu
Sinh nhằm quẻ Lữ trong Kinh Dịch
Nên rong rêu như bèo nổi qua cầu

Cầu sinh tử cứ trôi và chảy
Suối hồ sông biển cả mênh mông
Rạt rào vô hạn cùng Bùi Giáng
Giữa phù hoa nhảy múa phiêu bồng

Sài Gòn trút cơn mưa nguồn xuống
Gội cho đời bớt sa mạc khô khan
Trung Niên Thi Sĩ hề nâng cốc
Rượu thi ca tư tưởng uống tràn

Quán vỉa hè dăm ba cuồng sĩ
Túy lúy ca hòa cát bụi này
Ngày tháng ngao du mù lảo đảo
Phố phường say trời đất cũng say

THI SĨ BÙI GIÁNG

Không chỗ trú chẳng bến bờ
Vẫn bầu rượu với túi thơ dặm dài
Ngút mùa cuồng sĩ lai rai
Nghêu ngao vô sự hát bài Hoa Nghiêm
Có gì đâu phải đi tìm
Ba nghìn thế giới trong tim của mình
Tà tà giữa cuộc phiêu linh
Một hôm bất chợt thấy hình bóng xưa
Nên về cà rỡn bông đùa
Múa ca diệu dụng cùng mưa nắng cười
Miền hoan hỷ địa rong chơi
Khơi nguồn sáng tạo mở trời đất ra 




Nguồn: Tâm Nhiên - VHNA


* Tạp chí Tư Tưởng số 5. Đại học Vạn Hạnh, Sài Gòn 1969
** Phạm Công Thiện. Một đêm siêu hình với Hàn Mặc Tử, Trần Thi xuất bản, Hoa Kỳ 2009
*** Tuệ Sỹ. Huyền thoại Duy Ma Cật. Phương Đông xuất bản,  2007
**** Nguyễn Hữu Hiệu. Con đường sáng tạo. Hồng Hà xuất bản, Sài Gòn 1973
***** Nguyễn Tường Bách. Mùi hương trầm. Trẻ xuất bản, 2001
 Thơ văn Bùi Giáng ( chữ nghiêng ) trích trong các tác phẩm : Mưa nguồn, Lá hoa cồn, Sa mạc phát tiết, Sa mạc trường ca, Rong rêu, Như sương, Đêm ngắm trăng, Mùa màng tháng tư, Ký ức, Trúc mai, Mười hai con mắt, Rớt hột phiêu bồng, Bèo mây bờ bến. Thơ vô tận vui, Tuyết băng vô tận xứ, Thúy Vân, Mùa xuân trong thi ca, Tư tưởng hiện đại, Lời cố quận, Lễ hội tháng ba, Ngày tháng ngao du.